Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

  • Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng
  • Nhà văn Phùng Văn Khai: “Nhà văn phải cống hiến trí tuệ, tâm huyết trên từng trang bản thảo”

Truyện đầu tiên “Cha con tôi ngày ấy”, thay cho lời tựa cuốn sách như là sự tiếp nối của tập “Cha và con lính trận”. Chỉ riêng truyện này thôi tôi đã có cảm nhận cuộc đời Trần Khởi như một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết ngoài đời. Tốt nghiệp phổ thông, có giấy báo đi học nước ngoài nhưng anh từ chối để đi bộ đội. Mà trường hợp nhập ngũ của chàng thanh niên này chẳng giống ai lúc bấy giờ cả.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời -1
Nhà văn Trần Khởi.

Ông Trần Khôi, Phó chủ nhiệm Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá Binh trạm 32 về tuyển con trai mình vào bộ đội rồi cho con lên chiến đấu ở cao điểm Văng Mu, nơi ác liệt nhất. Chiến trường Trung Lào mùa mưa thật là khủng khiếp. Đại đội anh chết dần chết mòn, số lính cũ chỉ còn lại sáu người. Đường bị mưa lũ, bom đạn đánh phá tơi bời, sạt lở. Anh xung phong vào tổ “đánh mìn cảm tử” để thông đường và trở thành “kiện tướng đánh mìn cấp một”.

Anh đánh một lúc mười lăm quả liền. Đánh xong lại hối hả san lấp đường và không quên bắn ba phát súng thông xe. Ở đây sự sống và cái chết rình rập nhau. Những thằng giặc lái không lạ gì những chiến sĩ trên cung đường Trường Sơn cảm tử: “Những tên phi công Mỹ và những chiến sĩ công binh anh hùng C2 chẳng lạ lẫm gì nhau. Họ thi gan nhau, trừng trừng nhìn nhau như võ sĩ trên võ đài. Chỉ hơn ba ngày đêm mà trung đội bị máy bay địch nuốt chửng hơn nửa quân số”.

Gian khổ nhất là những chiến sĩ lái xe. Ban ngày mới bắt tay nhau thì ban đêm đã trở thành liệt sĩ. Khi hai cha con Trần Khởi đến thăm một tiểu đoàn xe vận tải, một chiến sĩ đang và vội miếng cơm để chuẩn bị lên đường, ông đến nhét vào túi áo anh một gói thuốc Điện Biên.

Người lính đứng bật dậy cười nói nhồm nhoàm: Cho em bắt tay tạm biệt thủ trưởng, chứ ngày mai không còn gặp được đâu. Hai bàn tay anh ta cầm chặt lấy tay ông cụ tôi. Đúng là điềm thật, sáng hôm sau tôi nghe ông Tiểu đoàn trưởng xe báo với cha tôi: Cái cậu lính trẻ, hôm qua bắt tay thủ trưởng ấy, hy sinh tại trọng điểm Văng Mu lúc ba gờ sáng rồi. Bom đánh trúng xe chẳng tìm được xác”.   

Những dòng văn đẫm đầy nước mắt. Người lính đón nhận cái chết nhẹ như lông hồng.

Hai cha con người lính cùng ở trên tuyến đường Trường Sơn nhưng chẳng mấy khi được gặp nhau. Ông Trần Khôi đi khắp các đơn vị trên tuyến đường, Trần Khởi suốt ngày đêm phá bom mở đường xung quanh trọng điểm.

Cao điểm Văng Mu đã tôi luyện anh trở nên chai lì nhưng đêm đêm nghe những binh đoàn rầm rập ra mặt trận, lòng anh như lửa đốt. Ngày 27/8/1968, anh quyết định một mình trốn vào chiến trường Khu 5 đánh Mỹ. Ra đi anh để lại dưới gối mấy dòng thư ngắn ngủi: “Ba thương yêu của con!

Con có lỗi với ba nhiều. Ba đừng buồn, đừng lo…Con đường vào Nam đầy gian lao thử thách, nhưng con đi đúng đường ba đã chọn.

Chúc ba khỏe, công tác tốt.

Hôn ba”.

Theo đường dây giải phóng, anh tìm đến Binh trạm 44 thuộc Đoàn 559 rồi đi tiếp vào chiến trường Khu 5 để được trực tiếp cầm khẩu súng bắn vào đầu thù. Anh gặp được người cô ruột mình ở chiến trường. Cô nói với ông Huỳnh Hữu Anh, Tư lệnh Sư đoàn 3 Sao Vàng: “Thủ trưởng Đồng Sĩ Nguyên nhờ Trạm gửi lời thăm thủ trưởng và nhờ thủ trưởng đừng dẫn cháu vào trong ấy. Ông Huỳnh Hữu Anh xua tay: Tôi có dẫn đâu. Mà đó là nguyện vọng tha thiết của tầng lớp thanh niên được đánh Mỹ”.

Tại đây anh được Tư lệnh Sư đoàn 3 nhận làm con nuôi.

Đến tháng 6 năm 1969, Trần Khởi được biên chế vào Tổ quân báo trinh sát kỹ thuật Sư đoàn 3 Sao Vàng giữa cơn đói khủng khiếp. Hãy nghe anh kể lại những hình ảnh tang thương mà hai cha con anh bắt gặp dọc đường. “Một anh lính nằm co quắp tội nghiệp, chìa bàn tay run run: Đồng chí ơi cho tôi ít gạo, cho tôi nước! Dường như anh ta không còn đủ sức để lê xuống suối lấy nước. Nói xong mắt anh ta từ từ nhắm lại”.

Dọc đường đi, hai cha con anh bắt gặp một bộ xương khô ôm khẩu AK đã gỉ sét trên chiếc võng dù bắc qua con suối, trái tim anh thắt lại. Đường giao liên bị Sư đoàn không vận số 1 của Hoa Kỳ, hai sư đoàn “Mãnh Hổ” và “Rồng Xanh”  của Nam Triều Tiên cày nát. Mặt trận Khu 5 đói quay đói quắt, một bát gạo phải đổi bằng một bát máu. Lòng căm thù dâng lên đầu súng, anh quên đi cái chết rình chờ. Một bữa đang thiêm thiếp ngủ thì nghe tiếng trực thăng phành phạch trên đầu. Địch phát loa kêu gọi đầu hàng.

Anh kể: “Mấy đứa xách súng vọt ra ngoài, tôi vẫn điềm tĩnh lấy khẩu AK ai đó để lại…tôi định thần, nép sát vào gốc cây, đưa súng lên ngắm bắn. Tôi nhắm vào thằng Mỹ tay cầm chiếc loa tương một loạt liên thanh. Nó rơi bịch xuống đất… Chưa lấy được ba lô, tôi quay lại để tìm mấy cuốn sách bạn bè tặng tôi trước lúc lên đường. Nhìn vô thấy bọn Mỹ lô nhô đầy nhà. Tôi kê khẩu AK lên tảng đá, nhằm đúng thằng Mỹ đen nổ một loạt. Hắn ngã vật xuống”.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời -0
Tác phẩm mới của nhà văn Trần Khởi.

Những hồi ức chiến trường bất chợt đến với anh từng đợt. Truyện ký của  anh không được sắp xếp theo khung thời gian nhất định mà theo chủ đề, theo từng chiến trường. Đó là nỗi nhớ thương vô cùng tận đối với nhà thơ, chiến sĩ Dương Thị Xuân Quý. Đó là sự thông minh kiệt xuất của tổ quân báo trinh sát kỹ thuật Sư đoàn 3 Sao Vàng. Họ đã phát hiện hàng chục lần vị trí địch định đánh bom, bắn pháo và đổ quân để đơn vị di dời tránh thương vong. Đặc biệt họ gọi máy bay và pháo binh địch đánh vào tàu chiến của chúng tại vùng biển Hoài Nhơn, Bình Định. Đó là những “Kỷ niệm mùa xuân chiến trường”, “Những ngày tham gia đại hội Khu ủy Quân khu 5”.

Sư đoàn 3 Sao Vàng tiến về Sài Gòn trong đội hình Binh đoàn Hương Giang, nhưng cầu Cỏ May đã bị địch cho nổ mìn phá hỏng, anh em phải dùng băng ca khiêng Trần Khởi xuống xe. Họ lấy nẹp bó vào chân phải của anh. Lúc đó anh vẫn còn nghe tiếng Trần Sĩ Cận, Đại đội trưởng Đại đội 2 (C2): “Khởi ơi! Đau lắm không em! Gắng lên em nhé!” Xe chở anh chạy về phía Vũng Tàu, tại khu rừng này anh gặp lại người bạn cũ Trần Tiến, người làng là chiến sĩ của Lữ đoàn xe tăng 203, ngày hôm sau đã tiến về dinh Độc Lập bắt Dương Văn Minh ra đọc lời đầu hàng trước Đài Sài Gòn. Dù nằm trên giường bệnh Trần Khởi vẫn la lên: Sài Gòn ơi thế là ta đã lỡ hẹn với Sài Gòn rồi. Và anh chập chờn thấy mình đang ngồi trên xe tăng đọc mấy câu thơ: “Đêm bị thương/ trước cửa ngõ Vũng Tàu/ chẳng chịu chia tay/ ta ôm chặt đồng đội/ bạn đặt ta lên xe chở vội/- Đánh thắng trận này ta mới chịu chia tay/ tăng gầm lên/nhằm thẳng hướng Cỏ May…”.

Sau ngày 30/4/1975, nằm trong Quân y viện 15 Nha Trang, một bệnh viện được Mỹ trang bị rất hiện đại, anh được một bác sĩ người Mỹ chăm sóc hết sức tận tình. Tỉnh lại, hàng đêm những cảm thức chiến tranh ùa về, anh day dứt nhớ về những đồng đội đã ngã xuống trong cơn đói.

Đọc “Rừng đói”, ta thấy thật thương những người lính Quân khu 5 vô cùng. Cái đói thật là phũ phàng, nghiệt ngã, nó tàn bạo chẳng kém gì bom đạn. Ngay cả Sư đoàn trưởng ngày hai bữa cũng chỉ được vài củ sắn. Tỉnh ủy Bình Định trồng được một rẫy sắn dự trữ bèn phải chia cho sư đoàn một nửa: “Dù đồi núi sông suối vòng vèo nhưng nghe nói đi lấy sắn ai cũng phấn khởi. Đã dặn dò rất kỹ là phải hết sức cẩn thận, nhưng thấy sắn là mừng như cha mẹ chết đi sống lại.…Một số nhào vô nhổ trộm ra bờ suối nấu lén để ăn. Lửa khói vô tình đã chỉ điểm cho máy bay thù đánh phá. Vườn sắn bỗng chốc tan tành, thật đáng thương, có 4 người chết, 2 người bị thương nặng…”.

Ở đâu, ở môi trường nào Trần Khởi cũng sống hết mình vì đồng đội. Ở đâu anh cũng hết lòng chia sẻ với bạn bè. Trong tập sách còn có nhiều trang viết về những người thân trong gia đình, những văn nghệ sĩ. Truyện nào cũng hay, truyện nào cũng ám gợi. Anh không né tránh cái sự thật trần trụi đến nghiệt ngã. Trần Khởi luôn có cái nhìn trực diện vào sự thật thế mà tập truyện ký “Cha và con lính trận” của anh vẫn được nhà xuất bản Uynecom Hoa Kỳ tái bản. 

Như nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đánh giá: “Cha và con lính trận” và “Rừng đói” là cuốn sách hay vì tác giả của nó có một cuộc sống dữ dội hiếm có trong chiến tranh. Những cuốn tiểu thuyết phi hư cấu đạt đỉnh mà tất cả các nhà-văn-lính đều mơ ước”.

Tập truyện ký “Rừng đói” nằm ở “độ nhám” của sự thật. Với bút pháp đồng hiện, những trận đánh trở về trong những cơn mơ. Trần Khởi không “văn chương hóa” chiến tranh mà dùng chính trải nghiệm sống sót qua cái chết để tạo nên một tác phẩm giàu chất đời và đầy xúc cảm đồng đội.

Hoàng Minh Đức

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.