Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta! ảnh 1

Bi kịch tình thơ

Đầu tiên, với tập thơ "Say" (Công Lực xuất bản năm1940) thi sĩ Vũ Hoàng Chương tạo được dư âm vang dội với chùm bài "Say đi em", "Phương xa" trong giới mộ điệu thơ mới (1935-1945). Ít lâu sau, người đọc phát hiện ra mảng thơ tình mới là mạch nguồn sâu sắc và đầy bản ngã tâm hồn của Vũ Hoàng Chương. Nhất là khi tập thơ "Mây" được NXB Đời Nay in năm 1943. Người đọc dần quên đi những câu thơ tượng trưng của thi sĩ như: "Khúc nhạc hồng êm ái/ Điệu kèn biếc quay cuồng/ Một trời hương phấn/ Đôi người gió sương". Họ đã quay sang say mê những bài thơ "Yêu mà chẳng biết", "Cánh buồm trắng", "Hờn dỗi"; Hoặc những câu chuyện kể qua "Mây suối về đâu", "Phố cũ" và "U tình"… Nhất là các bạn trẻ thường chép sổ tay những câu thơ rớt nước mắt: "Hôm qua tình đã chết/ Anh đã chôn nó rồi/ Anh khóc vì chôn nó/ Là chôn cả cuộc đời" (U tình). Người đọc theo dõi cuộc tình học trò và đầy bi kịch của nhà thơ: "Anh biết em từ độ/ Em mới tuổi mười hai/ Anh yêu em từ thuở/ Em còn tóc xõa vai". Mối tình ấy lớn dần lên trắng trong: "Trước đây mười chín năm/ Anh vừa hai mươi tuổi/ Em cũng vừa trăng rằm/ Tóc thơm còn bỏ suối" (Mây suối về đâu).

1-nha-tho-vu-hoang-chuong.jpg
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương.

Chàng là là thi sĩ họ Vũ, đậu tú tài ban toán trường Albert Sarraut (năm 1937), rồi trở thành sinh viên Đại học Luật khoa. Nàng là Tố Uyển học sinh trường Hàng Cót, con gái của một nhà buôn bán khá giả trong khu phố cổ. Họ quen nhau từ độ ấy và chàng trở thành gia sư cho nàng. Mối tình ngày càng mơ mộng trong nỗi nhớ nhung say đắm. Nhưng rồi thời gian bỗng trở nên khắc khoải: "Giấc uyên ương liền cánh/ Mộng trăm năm lứa đôi/ Êm đềm như tiếng hát/ Đã tan rồi em ơi". Những thi phẩm trong tập thơ "Say" như gạch nối giữa sự lựa chọn của cả chàng và nàng. "Say" ngỡ như cứu cánh, chàng khóc than mong kéo lại tình yêu: "Ôi chốn ngày xưa vai sánh vai/ Trán cao hoài vọng tóc buông cài/ Tuổi thơm mười sáu tình thơm mới/ Duyên đậm hàng mi ngập nắng mai". Nhưng niềm hy vọng tắt ngấm. Bởi chỉ năm sau (1941) nàng lấy chồng theo hẹn ước của gia đình từ trước. Thế là chàng chỉ biết khóc than: "Gặp gỡ chừng như truyện liêu trai/ Ra đi chẳng hứa một ngày mai/ Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai" (Đời vắng em rồi say với ai).

Đỉnh điểm bi kịch tình thơ của Vũ Hoàng Chương được dồn nén vào thi phẩm "Mười hai tháng sáu". Bài được viết vào đúng ngày cưới của Tố Uyển như một lời chia tay bi thiết (12-6-1941). Đây là một khúc ca ở nhiều cung bậc thương và hận nhưng lại trào dâng lãng tử: "Tháng sáu mười hai-từ đấy nhé/ Chung đôi-từ đấy nhé lìa đôi/ Em xa lạ quá-đâu còn phải/ Tố của Hoàng xưa Tố của tôi"; cõi lòng tan nát ấy đổ sầu với nỗi niềm ai oán: "Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng sáu ghi mười hai/ Tình ta ta tiếc-cuồng-ta khóc/ Tố của Hoàng nay Tố của Ai". Người đọc bất ngờ khi thi sĩ bật lên lời ca trong nước mắt với giai điệu lãng tử: "Tay gõ vào bia mười ngón giập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi". Bài thơ được in trong tập thơ "Mây" (NXB Đời Nay-1943).

Son sắt một lòng với giai nhân

Ngỡ như với "Say đi em" không ít người nghĩ Vũ Hoàng Chương là một người có trái tim ngập trong rượu. Nhưng thực tình, theo kiểm chứng của nhà văn Tô Kiều Ngân, người Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 lâu dài với Vũ Hoàng Chương ở đài Pháp Á (Sài Gòn) xác nhận rằng: "Kỳ thực Vũ không uống được rượu, hoặc uống rất ít, mà đó là hồi còn trẻ ở Hà Nội, Vũ còn không biết nhảy đầm mặc dù tả nhẩy đầm rất hay". Có đoạn nhà văn còn viết: "Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giầy hạ như anh hẳn là lạ lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo!" (Mặc khách Sài Gòn-Tô Kiều Ngân-Nhã Nam-Hồng Đức xuất bản năm 2014).

3-nhung-tac-pham-tho-cua-vu-hoang-chuong.jpg
Những tác phẩm thơ của Vũ Hoàng Chương.

Đặc biệt, Vũ Hoàng Chương có giọng ngâm thơ ấm áp truyền cảm. Ông cả đời chỉ làm bình luận viên chương trình thơ trên đài phát thanh và dạy học ở Văn khoa Sài Gòn. Ông liên tục ra mắt nhiều tập thơ mới sau khi cùng vợ con di cư vào nam (1954). Đặc biệt, nhà thơ Vũ Hoàng Chương được hai giải thưởng thơ lớn ở miền Nam, trở thành Chủ tịch Hội Văn bút miền Nam (1969-1973). Đáng chú ý trong mười tập thơ sau này của ông, bi kịch tình thơ với Tố Uyển vẫn thường xuất hiện mỗi khi nhớ đến ngày 12 tháng 6 hằng năm. Lòng thi sĩ vẫn ai oán nhớ thương: "Ta đã mất em rồi Kiều Thu ngày xưa/ Hào quang đã phai rồi, tóc mun dòng thơ" (Rừng phong). Nhưng kỳ lạ thay, sau hơn ba mươi năm ôm hận tình, nhà thơ đã giải tỏa được tâm trạng. Người ta kể rằng, Tố Uyển đã tâm sự đau lòng khi bị bắt ép duyên tình với ông quan huyện nhưng lòng vẫn luôn thương nhớ người mình yêu. Chuyện từ người nhà Tố Uyển kể mãi sau này mới đến tai ông. Rồi trong một ngày đầy đau xót 12/6/1972, Vũ Hoàng Chương đã lại viết bài thơ tình cuối cho người thương với tiêu đề: "Tố của Hoàng ơi". Bài thơ được in trong tập "Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" (Rừng Trúc xuất bản năm 1974). Mỗi câu thơ là một tiếng khóc ân tình khi hận được buông xả: "Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống/ Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ/ Đập nát ra cho trời đất uống/ Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ". Cuối cùng, trái tim thi sĩ rung theo nhịp ngậm ngùi: "Mười hai tháng sáu cung hồ xế/ Một mối tình si một mối thù/ Giây phút cũng tan thành biển lệ/ Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu!" (ghi ngày 12 tháng 6 Nhâm Tý -1972).

Phải chăng chính vì con người đa sầu như vậy mới có chuyện thi sĩ nặng tình với người yêu cho tới cuối cuộc đời. Nhiều văn nhân còn kể, sau khi Tố Uyển cưới, thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn còn không ít lần lén lên Bắc Ninh, nơi ở của vợ chồng Tố Uyển. Ông ngóng ở ngoài đường mong cơ hội nhìn lại hình bóng người yêu cho đỡ nhớ. Ngay lập tức, sau tập thơ "Mây" viết cho Tố Uyển; thi sĩ sáng tác một vở kịch thơ lấy tên là "Vân Muội" cho diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Thậm chí Vũ Hoàng Chương còn đích danh đóng vai chính để bày tỏ tình yêu thương nàng thơ của mình. Giọng ngâm lúc nào cũng bay bổng: "Anh sẽ trầm luân ngàn kiếp nhớ/ Cho dẫu ngày mai em lãng quên". Thơ của thi sĩ cũng như con người ông đúng như lời nguyện ước: "Cho đến ngày tận thế/ Tình ta như buổi đầu/ Anh yêu em ba chữ/ Cùng trời đất dài lâu". Yêu và mộng còn kéo dài mãi sau này. Mộng cứ đến trong hoang tưởng mơ yêu. Nỗi nhớ như hơi thở ấm áp kề bên: "Vầng trăng hiện khóe thu xanh/ Từ bao lâu vẫn chưa đành sẻ đôi/ Bóng mờ gương khuyết pha phôi/ Này phen lại trở về ngôi đêm rằm" (Mộng vẫn còn).

Tuy theo đuổi Tây học trong nhiều năm nhưng hồn thơ Vũ Hoàng Chương lại thuộc về Đường thi và cổ học. Ông từng được gia đình cho ăn học Hán Nôm từ nhỏ, suốt mười năm trước khi lên Hà Nội học trường Albert Sarraut. Thi sĩ giỏi Hán văn nên uyên thâm với cách dùng từ ẩn ý. Chùm thơ say tuy mang hình thức tự do nhưng niêm luật được kiểm soát chặt chẽ theo cung bậc nhạc điệu đường thi.

Sau này, nghệ nhân gốm còn đưa tôi xem bản dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu (Thôi Hiệu) của Vũ Hoàng Chương. Tôi sững người phải chăng đây cũng là lời than của thi nhân họ Vũ luôn u sầu và thẫn thờ với nỗi nhớ quê hương và người yêu. Lời thơ buồn sâu thẳm: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán?/ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi". Thật hiếm thi nhân nào có mối tình trong mộng thủy chung như Vũ Hoàng Chương. Tình cho một người, thơ trọn một đời. Vậy ông mới viết: "Ôi ta đã làm chi đời ta/ Ai đã làm chi lòng ta/ Cho đời tàn tạ lòng băng giá/ Sương mong manh quạnh chớm thu già" (Đời tàn ngõ hẹp).

Vương Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.