Bi kịch tình thơ
Đầu tiên, với tập thơ "Say" (Công Lực xuất bản năm1940) thi sĩ Vũ Hoàng Chương tạo được dư âm vang dội với chùm bài "Say đi em", "Phương xa" trong giới mộ điệu thơ mới (1935-1945). Ít lâu sau, người đọc phát hiện ra mảng thơ tình mới là mạch nguồn sâu sắc và đầy bản ngã tâm hồn của Vũ Hoàng Chương. Nhất là khi tập thơ "Mây" được NXB Đời Nay in năm 1943. Người đọc dần quên đi những câu thơ tượng trưng của thi sĩ như: "Khúc nhạc hồng êm ái/ Điệu kèn biếc quay cuồng/ Một trời hương phấn/ Đôi người gió sương". Họ đã quay sang say mê những bài thơ "Yêu mà chẳng biết", "Cánh buồm trắng", "Hờn dỗi"; Hoặc những câu chuyện kể qua "Mây suối về đâu", "Phố cũ" và "U tình"… Nhất là các bạn trẻ thường chép sổ tay những câu thơ rớt nước mắt: "Hôm qua tình đã chết/ Anh đã chôn nó rồi/ Anh khóc vì chôn nó/ Là chôn cả cuộc đời" (U tình). Người đọc theo dõi cuộc tình học trò và đầy bi kịch của nhà thơ: "Anh biết em từ độ/ Em mới tuổi mười hai/ Anh yêu em từ thuở/ Em còn tóc xõa vai". Mối tình ấy lớn dần lên trắng trong: "Trước đây mười chín năm/ Anh vừa hai mươi tuổi/ Em cũng vừa trăng rằm/ Tóc thơm còn bỏ suối" (Mây suối về đâu).
Chàng là là thi sĩ họ Vũ, đậu tú tài ban toán trường Albert Sarraut (năm 1937), rồi trở thành sinh viên Đại học Luật khoa. Nàng là Tố Uyển học sinh trường Hàng Cót, con gái của một nhà buôn bán khá giả trong khu phố cổ. Họ quen nhau từ độ ấy và chàng trở thành gia sư cho nàng. Mối tình ngày càng mơ mộng trong nỗi nhớ nhung say đắm. Nhưng rồi thời gian bỗng trở nên khắc khoải: "Giấc uyên ương liền cánh/ Mộng trăm năm lứa đôi/ Êm đềm như tiếng hát/ Đã tan rồi em ơi". Những thi phẩm trong tập thơ "Say" như gạch nối giữa sự lựa chọn của cả chàng và nàng. "Say" ngỡ như cứu cánh, chàng khóc than mong kéo lại tình yêu: "Ôi chốn ngày xưa vai sánh vai/ Trán cao hoài vọng tóc buông cài/ Tuổi thơm mười sáu tình thơm mới/ Duyên đậm hàng mi ngập nắng mai". Nhưng niềm hy vọng tắt ngấm. Bởi chỉ năm sau (1941) nàng lấy chồng theo hẹn ước của gia đình từ trước. Thế là chàng chỉ biết khóc than: "Gặp gỡ chừng như truyện liêu trai/ Ra đi chẳng hứa một ngày mai/ Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai" (Đời vắng em rồi say với ai).
Đỉnh điểm bi kịch tình thơ của Vũ Hoàng Chương được dồn nén vào thi phẩm "Mười hai tháng sáu". Bài được viết vào đúng ngày cưới của Tố Uyển như một lời chia tay bi thiết (12-6-1941). Đây là một khúc ca ở nhiều cung bậc thương và hận nhưng lại trào dâng lãng tử: "Tháng sáu mười hai-từ đấy nhé/ Chung đôi-từ đấy nhé lìa đôi/ Em xa lạ quá-đâu còn phải/ Tố của Hoàng xưa Tố của tôi"; cõi lòng tan nát ấy đổ sầu với nỗi niềm ai oán: "Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng sáu ghi mười hai/ Tình ta ta tiếc-cuồng-ta khóc/ Tố của Hoàng nay Tố của Ai". Người đọc bất ngờ khi thi sĩ bật lên lời ca trong nước mắt với giai điệu lãng tử: "Tay gõ vào bia mười ngón giập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi". Bài thơ được in trong tập thơ "Mây" (NXB Đời Nay-1943).
Son sắt một lòng với giai nhân
Ngỡ như với "Say đi em" không ít người nghĩ Vũ Hoàng Chương là một người có trái tim ngập trong rượu. Nhưng thực tình, theo kiểm chứng của nhà văn Tô Kiều Ngân, người Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 lâu dài với Vũ Hoàng Chương ở đài Pháp Á (Sài Gòn) xác nhận rằng: "Kỳ thực Vũ không uống được rượu, hoặc uống rất ít, mà đó là hồi còn trẻ ở Hà Nội, Vũ còn không biết nhảy đầm mặc dù tả nhẩy đầm rất hay". Có đoạn nhà văn còn viết: "Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giầy hạ như anh hẳn là lạ lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo!" (Mặc khách Sài Gòn-Tô Kiều Ngân-Nhã Nam-Hồng Đức xuất bản năm 2014).
Đặc biệt, Vũ Hoàng Chương có giọng ngâm thơ ấm áp truyền cảm. Ông cả đời chỉ làm bình luận viên chương trình thơ trên đài phát thanh và dạy học ở Văn khoa Sài Gòn. Ông liên tục ra mắt nhiều tập thơ mới sau khi cùng vợ con di cư vào nam (1954). Đặc biệt, nhà thơ Vũ Hoàng Chương được hai giải thưởng thơ lớn ở miền Nam, trở thành Chủ tịch Hội Văn bút miền Nam (1969-1973). Đáng chú ý trong mười tập thơ sau này của ông, bi kịch tình thơ với Tố Uyển vẫn thường xuất hiện mỗi khi nhớ đến ngày 12 tháng 6 hằng năm. Lòng thi sĩ vẫn ai oán nhớ thương: "Ta đã mất em rồi Kiều Thu ngày xưa/ Hào quang đã phai rồi, tóc mun dòng thơ" (Rừng phong). Nhưng kỳ lạ thay, sau hơn ba mươi năm ôm hận tình, nhà thơ đã giải tỏa được tâm trạng. Người ta kể rằng, Tố Uyển đã tâm sự đau lòng khi bị bắt ép duyên tình với ông quan huyện nhưng lòng vẫn luôn thương nhớ người mình yêu. Chuyện từ người nhà Tố Uyển kể mãi sau này mới đến tai ông. Rồi trong một ngày đầy đau xót 12/6/1972, Vũ Hoàng Chương đã lại viết bài thơ tình cuối cho người thương với tiêu đề: "Tố của Hoàng ơi". Bài thơ được in trong tập "Chúng ta mất hết chỉ còn nhau" (Rừng Trúc xuất bản năm 1974). Mỗi câu thơ là một tiếng khóc ân tình khi hận được buông xả: "Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống/ Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ/ Đập nát ra cho trời đất uống/ Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ". Cuối cùng, trái tim thi sĩ rung theo nhịp ngậm ngùi: "Mười hai tháng sáu cung hồ xế/ Một mối tình si một mối thù/ Giây phút cũng tan thành biển lệ/ Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu!" (ghi ngày 12 tháng 6 Nhâm Tý -1972).
Phải chăng chính vì con người đa sầu như vậy mới có chuyện thi sĩ nặng tình với người yêu cho tới cuối cuộc đời. Nhiều văn nhân còn kể, sau khi Tố Uyển cưới, thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn còn không ít lần lén lên Bắc Ninh, nơi ở của vợ chồng Tố Uyển. Ông ngóng ở ngoài đường mong cơ hội nhìn lại hình bóng người yêu cho đỡ nhớ. Ngay lập tức, sau tập thơ "Mây" viết cho Tố Uyển; thi sĩ sáng tác một vở kịch thơ lấy tên là "Vân Muội" cho diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Thậm chí Vũ Hoàng Chương còn đích danh đóng vai chính để bày tỏ tình yêu thương nàng thơ của mình. Giọng ngâm lúc nào cũng bay bổng: "Anh sẽ trầm luân ngàn kiếp nhớ/ Cho dẫu ngày mai em lãng quên". Thơ của thi sĩ cũng như con người ông đúng như lời nguyện ước: "Cho đến ngày tận thế/ Tình ta như buổi đầu/ Anh yêu em ba chữ/ Cùng trời đất dài lâu". Yêu và mộng còn kéo dài mãi sau này. Mộng cứ đến trong hoang tưởng mơ yêu. Nỗi nhớ như hơi thở ấm áp kề bên: "Vầng trăng hiện khóe thu xanh/ Từ bao lâu vẫn chưa đành sẻ đôi/ Bóng mờ gương khuyết pha phôi/ Này phen lại trở về ngôi đêm rằm" (Mộng vẫn còn).
Tuy theo đuổi Tây học trong nhiều năm nhưng hồn thơ Vũ Hoàng Chương lại thuộc về Đường thi và cổ học. Ông từng được gia đình cho ăn học Hán Nôm từ nhỏ, suốt mười năm trước khi lên Hà Nội học trường Albert Sarraut. Thi sĩ giỏi Hán văn nên uyên thâm với cách dùng từ ẩn ý. Chùm thơ say tuy mang hình thức tự do nhưng niêm luật được kiểm soát chặt chẽ theo cung bậc nhạc điệu đường thi.
Sau này, nghệ nhân gốm còn đưa tôi xem bản dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu (Thôi Hiệu) của Vũ Hoàng Chương. Tôi sững người phải chăng đây cũng là lời than của thi nhân họ Vũ luôn u sầu và thẫn thờ với nỗi nhớ quê hương và người yêu. Lời thơ buồn sâu thẳm: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán?/ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi". Thật hiếm thi nhân nào có mối tình trong mộng thủy chung như Vũ Hoàng Chương. Tình cho một người, thơ trọn một đời. Vậy ông mới viết: "Ôi ta đã làm chi đời ta/ Ai đã làm chi lòng ta/ Cho đời tàn tạ lòng băng giá/ Sương mong manh quạnh chớm thu già" (Đời tàn ngõ hẹp).