Thiếu tướng ĐỖ VĂN PHÚC: Người lính chiến với cây kèn Harmonica

bdt.jpg

Tháng 12/1972 ông là Tham mưu phó đặc trách về tên lửa của Sư đoàn Phòng không Hà Nội 361, trực tiếp chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong trận chiến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Năm 1979, ông tham gia chỉ huy phòng thủ và chiến đấu ở biên giới phía Bắc trước khi chuyển sang ngành tình báo chiến lược, làm Tùy viên quân sự ở Nga. Trước đó, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông nổi tiếng toàn mặt trận với tiếng kèn Harmonica thu phục nhân tâm lính Pháp… Ông là Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc, hiện sống tại Thủ Đức - TP Hồ Chí Minh. Năm nay bước sang tuổi 95, với một máy trợ tim, nhưng tinh thần ông vẫn “mãi mãi tuổi 20”, vẫn sáng tác nhạc thiếu nhi, tình ca, vẫn thổi kèn Harmonica một cách hào hứng.

Tiếng kèn địch vận trong chiến dịch Điện Biên Phủ

72 năm trước, tình cờ ông trở thành một chiến sĩ địch vận nổi tiếng ở mặt trận Điện Biên Phủ, với cây kèn Harmonica. Trước đó, ông là Đại đội trưởng Đại đội 56- “bộ binh pháo”, Trung đoàn 98 của Tướng Vũ Lăng, Đại đoàn 316, phụ trách đánh ở đồi C1 và C2 trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Và khi đó ông đã nổi tiếng mặt trận với sáng kiến “bắn súng cối ôm nòng”. Tình hình chiến sự lúc đó vô cùng ác liệt, 75% quân số đại đội của ông đã hy sinh trong cuộc chiến chiếm đồi C1, 6 cán bộ chỉ huy còn lại 2.

thieu-tuong-do-van-phuc-say-me-ben-cay-ken.jpg
Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc say mê bên cây kèn.

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc kể: “Tổng cục Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá đã cử một tổ công tác địch vận mang máy và loa xuống trận địa cối 81 của Đại đội bố trí cách đồi C1 400m. Tình cờ các anh thấy tôi có cây kèn Harmonica, nên bảo: "Ôi thế thì hay quá, anh biết bài nào thì anh cứ thổi".Và thế là tôi trở thành chiến sĩ địch vận từ giờ phút đó. Bài đầu tiên tôi thổi là "Vì nhân dân quên mình”, “Chiến sĩ ca”, “Làng tôi”, “Qua miền Tây Bắc”…, là những ca khúc được sáng tác thời kỳ ấy rất được bộ đội mình yêu thích, để cổ vũ tinh thần, động viên ý chí chiến đấu của đồng đội. Ngay khi phát loa ra, địch bắn ghê lắm. Đến ngày thứ hai, tôi quyết định thổi bài "One day when we were young" - ca khúc cổ điển nổi tiếng thập niên 40 tại châu Âu và vài bài nhạc Tây khác, chủ yếu là các bài nhạc đồng quê đang thịnh hành thời đó ở châu Âu. Khi loa của ta vừa phát, lúc đầu quân Pháp cũng như thói quen bắn ra xối xả nhưng khi giai điệu réo rắt tha thiết của bài “One day…”, rồi vài khúc nhạc Tây, tiếng súng thưa thớt rồi im hẳn.

Rồi đêm sau, đêm sau nữa, khi chúng tôi thổi kèn, và phát nội dung binh vận thì bên phía Pháp không còn bắn sang nữa. Tiếp theo sau đó ta đã chiếm được cứ điểm C1, tôi nghĩ chắc một phần có sự đóng góp của tổ binh vận, của tiếng kèn làm nhụt tinh thần ý chí chiến đấu của quân Pháp. Cũng từ đó tôi đã được các chiến sĩ ở mặt trận đặt biệt danh “Tiếng kèn địch vận ở Điện Biên Phủ”. Một biệt danh vừa là niềm tự hào vừa như một cái “mầm” để sau này rời cuộc chiến, ý thích và ước muốn sáng tác nhạc đã nhen nhóm trong tôi”.

Trong cuốn sách "Thung lũng cuối cùng", nhà sử học Pháp Pierre Rocolle cho biết: “Từ giữa tháng 3/1954, quân đội viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ bắt đầu nghe thấy âm thanh từ hệ thống loa của Việt Minh đặt khắp nơi trên trận địa, với những lời kêu gọi đầu hàng bằng tiếng Việt, Pháp, Đức, Ảrập và âm nhạc được phát liên tục ngày đêm. Đó là một trong nhiều phương thức tác chiến mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng trên mặt trận đấu tranh tâm lý với đối phương”...

Được biết cây kèn Harmonica của ông đã trở thành một hiện vật- kỷ vật lịch sử cùng các hiện vật khác của các chiến sĩ Điện Biên Phủ ngày ấy, hiện được trưng bày trong Bảo tàng Cách mạng TP Hồ Chí Minh, được để trong chiếc hộp lót nhung đỏ rất trang trọng trong gian trưng bày “Kỷ vật của những người đi B” từ tháng 5/2000.

Cũng không phải sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc đã có thể thỏa nguyện ước mơ làm nhạc sĩ sáng tác ca khúc. Ông vẫn lại tiếp tục con đường binh nghiệp, được đi đào tạo quân sự ở Nga. Tháng 12/1972 ông là Tham mưu phó đặc trách về tên lửa của Sư đoàn 361 Phòng không Hà Nội- Sư đoàn “Cận vệ đỏ”, trực tiếp chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong trận chiến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Đến chiến tranh biên giới phía Bắc, ông tham gia chỉ huy phòng thủ và chiến đấu ở biên giới trước khi chuyển sang ngành tình báo chiến lược, làm Tùy viên quân sự ở Nga cho đến ngày về hưu.

thieu-tuong-do-van-phuc-van-thuong-xuyen-theo-doi-tin-tuc-moi-buoi-sang.jpg
Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc vẫn thường xuyên theo dõi tin tức mỗi buổi sáng.

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc là một vị tướng trận hiếm hoi trong hàng tướng trận Việt Nam sau những khói lửa binh đao, lấy âm nhạc làm thú vui. Ông chơi đàn Piano rất giỏi, chơi đàn Guitar rất hay, ông cũng biết chơi đàn Organ và chơi những tiết tấu quân hành rộn ràng trên đàn. Như thói quen, và cũng là đam mê, buổi chiều nào ông cũng dành ít phút thư giãn để thổi Harmonica một khúc nhạc ngẫu hứng, như một hoài niệm về thời trai trẻ chinh chiến “tiếng kèn địch vận trên chiến trường Điện Biên Phủ”. Sáng tác đầu tay của ông, là ca khúc “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” khi kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, “là để kỷ niệm cho chính tôi và các đồng đội ở chiến trường Điện Biên năm xưa, cũng là kỷ niệm không thể quên với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và trên hết là kỷ niệm, tưởng niệm những đồng đội của tôi đã hy sinh ngày ấy...” - ông tâm sự.

Và sáng tác ca khúc, như một niềm đam mê, như một cách thư nhàn với cuộc sống của một tướng trận thời bình. Những ca khúc của ông cũng biểu lộ một tài hoa âm nhạc và có “duyên” với những cuộc hội diễn Binh chủng, ngành Quân y, trên sóng phát thanh VOV, VTV và còn đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc cho ca khúc của mình. Tính đến nay ông đã có trong tay vài chục ca khúc, trong đó 2 ca khúc dành riêng cho tình yêu tên lửa: “Người canh giữ bầu trời”, “Kíp săn B.52”- ca ngợi những người lính trắc thủ tên lửa, trở thành bài ca của Quân chủng Phòng không - Không quân. Ông kể, hơn nửa cuộc đời binh nghiệp của ông gắn với Hà Nội, nên tình yêu của ông với Hà Nội như một chốn quê, một cõi nhớ, một vết khắc sâu sắc trong trái tim, tâm hồn, nên có khá nhiều ca khúc về Hà Nội như “Hà Nội, em và tôi”, “Nhớ mãi Hà Nội”... Ông cũng không quên cái nôi cuộc đời binh nghiệp là trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, nên dành cho ngôi trường xưa một ca khúc thật ấm áp, phổ thơ cũng của bạn cùng trường là Nguyễn Hoàn: “Thăm trường cũ nhớ người xưa”.

Là một tướng trận nên ông hiểu sâu sắc cái giá của hòa bình, khát vọng hòa bình, ông có hai ca khúc phổ thơ của đồng đội: “Chim ơi đừng mỏi cánh” (thơ Hoàng Khánh - nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) và “Chim nhạn” (thơ Trần Văn Giang - Chính ủy F.361). Do di chứng chiến tranh nên ông phải dùng máy trợ tim, lần thay máy thứ 3 vào tháng 4/2024, những cảm nhận ở ranh giới sinh tử được các bác sĩ chăm sóc, ông đặc biệt dành tình yêu cho ngành y với ca khúc “Hoa màu trắng”, với giai điệu tha thiết, trìu mến và nhiều chất thơ. Ca khúc đã được ngành Quân y dàn dựng hội diễn toàn quân nhiều lần và VOV thu phát sóng. Và như món quà tặng cho cháu ngoại, cũng là một hy vọng của tương lai OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao, ông sáng tác ca khúc thiếu nhi: “Em đến trường”, đã được phát nhiều lần trên sóng HTV, và in trong báo thiếu nhi…

Kể từ khi về hưu, ông đã thực hiện ước mơ từ những ngày thổi kèn địch vận trên chiến trường chiến dịch Điện Biên Phủ, sáng tác ca khúc, như một niềm đam mê, như một cách thư nhàn với cuộc sống của một tướng trận thời bình.

Hoài Hương

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).