Trần Nhân Tông: Hoàng đế, Thiền sư và thi sĩ

Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308): người anh hùng đã lãnh đạo toàn dân hai lần kháng Nguyên thắng lợi (1285 và 1288), người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - đỉnh cao tư tưởng của Thiền học Việt Nam, một thi sĩ đặc sắc của văn học giai đoạn Lý - Trần.

  • Bản lĩnh ngoại giao Trần Nhân Tông
  • Về Yên Tử tưởng nhớ Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Nhìn lại lịch sử mười thế kỷ của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Việt Nam, có thể mạnh dạn khẳng định rằng, thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất với những chiến công chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt và những thành tựu to lớn về Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá, Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, văn hóa, OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao. Điều đáng nói nữa ở thời đại này là một dấu ấn tinh thần đặc thù in đậm trong lịch sử, một thứ dấu ấn tinh thần rất khó gặp lại ở các giai đoạn sau cho dẫu trình độ văn minh phát triển ngày càng cao hơn.

Dấu ấn tinh thần ấy thể hiện ở hình ảnh của những con người tràn đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng. Có khi, rất nhiều con người hợp thành trong một con người: là hoàng đế, là anh hùng cứu nước, là triết gia, là thiền sư, là thi sĩ... Đạt tới độ điển hình cho kiểu con người như vậy, không ai khác, chính là Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308): người anh hùng đã lãnh đạo toàn dân hai lần kháng Nguyên thắng lợi (1285 và 1288), người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - đỉnh cao tư tưởng của Thiền học Việt Nam, một thi sĩ đặc sắc của văn học giai đoạn Lý - Trần.

Theo "Toàn Việt thi lục", "Thánh đăng ngữ lục" và "Lịch triều hiến chương loại chí", trước tác của Trần Nhân Tông bao gồm: "Trần Nhân Tông thi tập", "Đại hương hải ấn thi tập", "Thiền lâm thiết chủy ngữ lục", "Tăng già toái sự", "Thạch thất mị ngữ" và "Trung hưng thực lục". Tuy vậy, hiện chỉ còn tìm thấy của ông 31 bài thơ, một bài minh, một bài tán và hai bài văn nôm biền ngẫu. Về thơ, từ 31 tác phẩm còn lại có thể nhìn ra ở Nhân Tông hoàng đế hai cảm hứng cơ bản, tương ứng với hai mảng đề tài: thế sự và Thiền. Mảng thơ Thiền của Trần Nhân Tông chính là một đặc phẩm, không phải chỉ của riêng Trần Nhân Tông, mà là của thi ca Việt Nam trung đại nói chung.

Trước hết, ta hãy thử đọc một bài tuyệt thi có tựa "Xuân cảnh":

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cộng ỷ lan can khán thúy vi

Dịch thơ:

Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế
Cùng tựa lan can nhìn núi mây

("Cảnh xuân" - Nguyễn Huệ Chi dịch)

Hai câu đầu của bài thơ trình ra kết quả tri giác cụ thể của con người trước thế giới: cái nghe (điểu ngữ trì - chim hót chậm rãi), và cái nhìn (mộ vân phi - mây chiều lướt bay). Con người ở đây có thể là chính tác giả, nhưng do sự tỉnh lược chủ ngữ trong câu, đó cũng có thể là "không ai cả": thiên nhiên tự phô diễn vẻ đẹp của chính mình theo trục thời gian, một cách "tự nhiên nhi nhiên". Trên dòng trôi chảy ấy, "khách" xuất hiện, một sự xuất hiện trong im lặng (bất vấn - không hỏi) và hòa đồng (cộng ỷ - cùng dựa vào) tuyệt đối vào cảnh vật.

Cuối bài thơ, màu xanh biếc (thúy vi) của thiên nhiên mùa xuân bao trùm lên tất cả, cũng giống như cái tâm Thiền an lạc đang tràn ngập hồn người. Chỉ miêu tả chứ không diễn giảng, bài thơ đã "chừa chỗ" cho người đọc cộng hưởng với khoảnh khắc "vong ngã" của tác giả trước vẻ đẹp ngất ngây của thế giới... Có thể nói, "Xuân cảnh" là bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ Thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nó không trực tiếp hoặc gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông (như thường thấy ở những bài kệ của các thiền sư), mà nó thiên về bày tỏ cảm xúc Thiền của con người đạt đạo trước cái đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống.

Thuộc về phong cách thơ Thiền Trần Nhân Tông như bài "Xuân cảnh", có thể kể đến bài thơ có tựa "Nguyệt":

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ trích thu đình dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ

Dịch thơ:

Đèn song chếch bóng, sách đầy giường
Đêm vắng sân thu lác đác sương
Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết
Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương"

("Trăng" - Đào Phương Bình dịch)

Không gian được phác lên trong bài thơ là một không gian bao la khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ, đặc trưng cho cái "không" của thiền. Thời gian ở đây là thời gian ban đêm, mùa thu - thời điểm thuận lợi cho sự bừng ngộ, khi cái tâm của con người được lắng đọng và gạt bỏ đi lớp màn bụi bặm vô minh che phủ thường ngày. Trong cái không - thời gian ấy, con người tỉnh giấc (thụy khởi) với dư vang của tiếng chày nện vải (châm thanh). Tiếng chày không phải là thực tại - nói đúng hơn thì nó đã từng là thực tại - nó bị không gian "nuốt chửng", và vì thế mà không gian trống không lại càng trở nên vô tận. Từ cái "tĩnh" mà cái "động" sinh ra: hình ảnh ánh trăng vừa ghé đến bên bông hoa hé nở giữa đêm khuya vừa là hình ảnh thực, vừa như một ẩn dụ về sự bừng sáng của trí tuệ giữa khoảng không bao la của vũ trụ - tâm hồn.

Ta bắt gặp một lần nữa ánh trăng, nhưng lần này là trăng xuân, trong thơ của Trần Nhân Tông qua bài luật thi có nhan đề "Đăng Bảo Đài sơn":

Đất vắng đài thêm cổ
Ngày qua, xuân chửa nồng
Gần xa, mây núi ngất
Nắng rợp, ngõ hoa lồng
Muôn việc nước trôi nước
Trăm năm lòng như lòng
Tựa hiên, nâng sáo ngọc
Đầy ngực ánh trăng trong

("Lên núi Bảo Đài" - Ngô Tất Tố dịch)

Cảnh núi Bảo Đài qua cái nhìn của tác giả tuy u tịch nhưng vẫn mang nét đẹp nên thơ sinh động, cái sinh động bởi có sự chuyển động: ngọn núi phủ mây thì khi xa khi gần, con đường hoa thì nửa sáng nửa tối (Vân sơn tương viễn cận/ Hoa kính bán tình âm). Thế nhưng, con người trong cảnh lại thường tại, an nhiên, dường như không hề bị biến đổi theo sự biến đổi của ngoại cảnh (Bách niên tâm ngữ tâm - trăm năm lòng nói với lòng). Con người ấy, ở hai câu kết của bài thơ, đã tan hòa trong ánh trăng tràn ngập không gian, lặng lẽ mà dào dạt vô biên. Nếu căn cứ trên cú pháp của câu thơ (Minh nguyệt mãn hung khâm - trăng sáng rọi đầy cả ngực, bụng), ta sẽ thấy trong bối cảnh này trăng mới chính là chủ thể: trăng chủ động bao phủ lấy người, tắm gội cho người bằng ánh sáng trong trẻo của nó. Thiền vị của bài thơ, có thể nói, toát ra từ  chính sự giao hòa tự nhiên giữa người và cảnh.

Trong một vài trường hợp, thơ Thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông lại là sự bày tỏ trạng thái tinh thần, tâm tư, hoặc nhận thức của một con người đã giác ngộ chân lí. Ông hướng tới việc miêu tả sự vi diệu của thế giới bên trong hơn là quan tâm đến sự phong phú sống động của thế giới hình sắc tồn tại khách quan bên ngoài. Hai bài thơ cùng mang nhan đề "Sơn phòng mạn hứng" có thể được xem là một ví dụ:

Bài 1:

Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?
Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên
Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão
Như trước, am mây chốn tọa thiền?

Bài 2:

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
Lợi danh lạnh với trận mưa đêm
Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng
Xuân cỗi còn dư một tiếng chim"

("Mạn hứng ở sơn phòng" - Đỗ Văn Hỷ dịch)

Dưới dạng những câu hỏi phản biện, qua hai câu đầu của bài thơ thứ nhất, tác giả đã thể hiện một quan điểm phá chấp triệt để - phá cái chấp vào Phật và cái chấp vào giải thoát, hướng tới sự giải phóng hoàn toàn cho cá nhân. Thật ra, đây là một quan điểm đã trở thành "truyền thống", mang nét đặc trưng cho tinh thần khai phóng của Thiền học Việt Nam thời Lý - Trần. Nhưng ở Trần Nhân Tông, dường như cách diễn đạt của cùng một nội dung đã trở nên nhu nhuyễn hơn, và dường như cách ông triển khai sự khế hội chân lí của mình cũng khác. Có vẻ như ông gần với triết lí "pháp tự nhiên" (thuận theo tự nhiên) của Lão Trang hơn. Điều đó thấy khá rõ ở bài thơ "Sơn phòng mạn hứng" thứ hai.

Trần Nhân Tông nói đến hoa buổi sớm (triêu hoa), trận mưa đêm (dạ vũ), và những yếu tố thuộc về tự nhiên này, với ông, đã trở thành vật quy chiếu cho những yếu tố thuộc về con người: sự biện biệt cái đúng cái sai (thị phi niệm), suy nghĩ về danh và lợi (danh lợi tâm). Khi hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh, núi đã trở nên vắng lặng, thì một tiếng chim báo hiệu mùa xuân sắp hết: quy luật sinh diệt tất yếu của thế giới vô thường là như vậy, trên dòng chảy vô thường đó, con người chỉ có thể đạt tới sự an lạc tự tại khi hiểu rõ chân tướng của nó, thuận theo nó, như nước chảy mây trôi...

Trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông còn lại đến nay không nhiều, bộ phận thơ ca nói chung và thơ ca mang cảm xúc, cảm hứng Thiền trong đó lại càng ít hơn nữa. Nhưng, đó là cái ít vô cùng cần thiết để hiểu cho rõ và cho đủ về một nhân cách văn hóa vĩ đại trong lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Qua một góc nhỏ thơ Thiền, ông đã neo lại, và neo lại được trên dòng nước bạc thời gian hình ảnh một con người đạt đạo, một con người vượt khỏi cái chấp vào Không hay Có để nhập vào cuộc sống bình dị và có ý nghĩa trong "cuộc đời này", một con người tu dưỡng cái tâm hài hòa cùng mạch sống của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026: ăn, ngủ, Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 đời, đánh giặc cứu nước, vinh danh nước Đại Việt vào thiên cổ.

Hoài Nam

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.