Thơ Tô Hằng Thanh trong nhịp điệu biển và “Độc thoại với thiên nhiên”

Nữ nhà thơ Tô Hằng Thanh, hội viên Hội VHNT tỉnh Khánh Hòa (SN 1956, năm 1972 là nghệ sĩ trong Đoàn Văn công Giải phóng Liên khu V) vừa ra mắt tập thơ “Độc thoại với thiên nhiên” do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Đây là tập thơ thứ 5 của chị.

  • Những nhà báo - nhà thơ làm rạng danh quê hương Xứ Đoài
  • Nhà thơ Nguyễn Ma Lôi, phía sau tiếng cười

Thơ Tô Hằng Thanh những năm qua xuất hiện đều đặn trên OK9 thể thao xanh chín Trung ương và các tỉnh phía Nam với giọng thơ đằm thắm, giầu nữ tính. Những cung bậc cảm xúc của thơ trữ tình ở mọi cảnh sắc với con người và OK9giaitri đăng nhập hôm nay. Có lẽ được sống ở Nha Trang, thành phố biển đẹp nhất nước nên tâm hồn nữ nhà thơ này tràn đầy màu sắc, âm thanh của sóng biển, nắng ấm và cát vàng.

bìa thơ độc thoại với thiên nhiên của nhà thơ tô hằng thanh.jpg -0
Bìa cuốn “Độc thoại với thiên nhiên” của nhà thơ Tô Hằng Thanh.

Em mãi là chân sóng
Nuôi khát vọng trùng khơi
Bến bờ luôn chờ đợi
Sóng choàng dâng trắng dòng

Em nguyện làm chân sóng
Gói thức ngủ ngày đêm
Hòa tình yêu biển động
Cuộn dào dạt lắng êm

Mấy câu trong bài thơ “Chân sóng” nói trên cho thấy, trong người thơ này, tiếng-sóng-thơ luôn là nỗi khát khao đánh thức nhiều cảm xúc và năng lượng thơ của chị. Không chỉ thế, tác giả còn xa xót cảm nhận được nỗi đời dâu bể, trầm luân trong một ngày “Biển cạn”:

Có một chiều biển cạn
Gió lặng nhìn ngẩn ngơ
Sóng không còn vô tư
Bờ đá gồ ghề thở

Có một mùa hạn hán
Mong chờ cơn mưa ngâu
Lòng ta như biển cạn
Sóng về đâu…về đâu

Cuộc đời bao bể dâu
Rong rêu trùm mặt đá
Biển cạn dòng như đã
Hững hờ con sóng say

Như vậy, hình bóng của biển cả trong thơ Tô Hằng Thanh luôn có hai chiều buồn-vui của cuộc đời nhân thế, nó không chỉ mang vẻ đẹp khao khát sự rộng lớn, huy hoàng của thiên nhiên mà còn thao thức ở những đáy sâu của một miền sóng mặn như những câu thơ dưới đây trong bài “Tựa vào ngực đá”:

Biển muôn đời mặn chắt
Giấu lòng mình bão giông
Có một chiều lặng lẽ
Đi về phía hoàng hôn
Gió đi tìm ngã rẽ
Cát ngu ngơ tủi hờn
Con sóng nào vừa lớn
Biết tuổi mình bao nhiêu
Có hiểu gì dại khôn
Để thấu lòng biển cả
Tựa đầu vào ngực đá
Biển mặn chát muôn đời

Hình như trong đoạn thơ trên, biển đã nói hộ nỗi lòng của tình người - tình đời đấy chứ! Tác giả đã nhân cách hóa nỗi niềm của biển cả và vách đá trong nhạc điệu thơ 5 chữ khá quen thuộc với chị. Tôi nghĩ, phần nào đó, tác giả Tô Hằng Thanh đã chịu ảnh hưởng trong các bài thơ tình nổi tiếng của nhà thơ Xuân Quỳnh viết về biển trong nhịp điệu say đắm, da diết của thể thơ 5 chữ này.

 Một điểm quan trọng đáng chú ý, trong tập thơ “Độc thoại với thiên nhiên”, thơ Tô Hằng Thanh dường như đã thấm lắng tình quê hương, tình con người trong những khoảnh khắc thân thương rung động trái tim tác giả ở nhiều cung bậc:

Vẫn là phố - phố thì rất cổ
Con đường về vẫn nhỏ thế thôi
Trở lại Hội An cơn mưa vừa đổ
Miên man buồn, chiều sẫm hoàng hôn rơi

Hội An! Những ngôi nhà trong tôi
Hai mắt cửa như người thương chờ đợi
Những cột kèo từ bao năm không mỏi
Nắng mưa chẳng hao mòn, ngày tháng cứ dần trôi

                      (Trở lại Hội An)

Vẫn thiết tha, da diết gợi cảm như vậy, trong một bài thơ khác, tác giả đánh thức dòng sông trở lại với non ngàn trong giai điệu tình quê vời vợi:

Ngủ nhiều rồi sông ơi thức dậy
Con đò chiều lặng lẽ qua đây
Nhớ một thuở sông đầy tiếng sóng
Mà sao giờ chỉ một mái chèo ngây

                (Đánh thức dòng sông)

Ở giai đoạn gần đây, trong nhiều bài thơ của mình, Tô Hằng Thanh đang thao thức, chiêm nghiệm với các miền trầm tích văn hóa cổ xưa, với những thăng trầm của lịch sử còn để lại những dấu ấn không thể phai mờ qua thời gian, từ bài “Tiếng vọng một vương triều” với những câu thơ:

Bụi thời gian đâu xóa được hình hài
Vương quốc Chămpa thời xưa cổ
Vọng nghe từ lá đổ
Tiếng nhạc Chăm réo rắt
Tiếng người Hời
Tiếng vọng từ hư không
Thăm thẳm ngàn trùng
Đá khắc nên hình hài
Vũ điệu Chăm cong dáng mềm vũ nữ
Nét mặt buồn trĩu xuống dáng vai thon

Đến bài thơ “Thánh địa Mỹ Sơn” còn trong nhạc điệu bi tráng của một thời hưng phế giấu mình trong rừng thẳm lời nguyện cầu của núi non xưa:

Bao vương triều đã phủ rêu phong
Bụi thời gian trùm lên phế tích
Bảy mươi ngôi đền hướng về phía Đông
Nhận ánh sáng mặt trời trầm mặc

Có thể thấy, trên cánh đồng mùa màng của thơ Tô Hằng Thanh, cảnh sắc thiên nhiên luôn đối thoại với người thơ trong một tâm thế nhiều ưu tư, trăn trở:

Có một ngày cô đơn
Tìm về nơi xa thẳm
Độc thoại cùng xanh thắm
Nỗi buồn có vơi hơn

Ngồi một mình thấy thương
Rễ cây si dài mãi
Yêu ai mà cây phải
Quấn quýt nỗi đoạn trường

Cũng với sự tự vấn và tâm thức nói trên, những câu thơ mang hơi thở của OK9giaitri đăng nhập nhân sinh cần lao, được tác giả khắc họa đậm nét hơn như một sự sẻ chia, đồng cảm với phận người vất vả trong cuộc sống hôm nay:

Chiếc đòn gánh oằn vai ngày tháng
Nắng cháy da đong từng giọt mồ hôi
Bàn chân bước đi-bỏng rát
Người đàn bà lặng lẽ- mím chặt môi

Người đàn bà gắn cuộc đời mình vào gánh muối
Mặn từng giọt mồ hôi lấp lánh ánh mặt trời
Vị muối mặn kết tinh từ lam lũ
Từ nhọc nhằn những bữa cơm vơi

            (Người đàn bà gánh muối)

Trong khi đối thoại với thiên nhiên, tác giả Tô Hằng Thanh nhiều lúc lắng mình lại để lắng nghe, để cảm nhận được chiều sâu của những thanh âm đã làm nên vẻ đẹp của núi sông, của tình người trong tiếng đàn - tiếng lòng muôn thuở mà người xưa gửi lại với nhiều tâm sự ưu tư ví như bài thơ “Khúc tì bà bên sông” với mấy đoạn thơ khá lắng đọng:

Sương khói mơ hồ buông
Dòng sông lẳng lặng chảy
Khúc Tì bà ai gảy
Chìm mãi vào hư không

Thi sĩ hồn non sông
Câu thơ miên man gió
Tiếng đàn tan hư vô
Nỉ non khúc đoạn trường

Khói sương hòa sóng sánh
Ly trà thi nhân mời
Câu thơ nào đặc quánh
Tiếng tì bà chơi vơi…!

Tập thơ gần 200 trang với hơn 99 bài thơ cho thấy sự sung mãn trong sáng tạo của tác giả Tô Hằng Thanh trong mấy năm qua. Nhưng sự dễ viết cũng có thể làm cho người viết dễ quen tay khi thơ chị nhiều sự đơn điệu mượt mà lại thiếu đi phần gai góc, nhiều khi giầu cảm xúc mà lại thiếu các ý tưởng sâu sắc. Tôi cảm thấy, có một số bài thơ chị viết cho nhanh, cho xong để viết bài khác mà không muốn sửa chữa kỹ cả về ngôn từ và nhịp điệu thơ nên thành phẩm không được hoàn hảo như ý. Viết đến đây, tôi lại nhớ câu châm ngôn của cố nhà thơ Lê Đạt “Thơ là một lạng cảm hứng cộng với một tạ mồ hôi”. Mong rằng tác giả Tô Hằng Thanh ngày càng thấy khó viết sẽ càng ngấm được những câu thơ hay của thơ đích thực.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.