Người dịch ‘Hịch tướng sĩ’ của Trần Hưng Đạo ra thơ

"Hịch tướng sĩ" là bản thiên cổ hùng văn của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 ta, thể hiện quyết tâm chống giặc ngoại xâm và nêu cao khí tiết, tư tưởng yêu nước thương nòi của Trần Hưng Đạo, người viết bài hịch này. Nguyên văn bài hịch bằng chữ Hán và đã được dịch đưa vào giảng dạy trong nhà trường để Ok986 tải ứng dụng, hun đúc cho thế hệ sau lòng yêu nước và tinh thần tự chủ, quật cường của cha ông ta. Có một điều thú vị là một người đã dịch bài hịch này ra thành bài thơ dài. Người đó là nhà thơ Phạm Thiên Thư. 

Lai lịch của bài "Hịch tướng sĩ"

Như chúng ta đã biết, bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo ra đời vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Theo những tài liệu lịch sử, tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng: "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?", Hưng Đạo Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!".

Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng. Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân, và thảo bài "Dụ chư tỳ tướng hịch văn" (thường gọi là "Hịch tướng sĩ") để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách "Binh thư yếu lược", chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai. 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư.

Xin trích một đoạn trong bài "Hịch tướng sĩ" đã được dịch: "Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước….

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm....".

Những dòng chữ hừng hực khí thế, chứa chan tâm huyết và tình cảm của bài hịch đã khích lệ, làm bừng lên hào khí  của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 ta, góp phần vào những chiến công chống quân Nguyên Mông. Người đời sau, trong đó có các sử gia, nhà văn, đánh giá cao giá trị và ý nghĩa, tác dụng to lớn bài hịch này. Một trong số đó là ý kiến của nhà văn Ngô Tất Tố và sử gia Trần Trọng Kim. Nhà văn Ngô Tất Tố cho rằng: "Bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn cho thấy, tuy Hưng Đạo Vương là võ tướng, nhưng ông có tài học, có đọc nhiều sách và thông hiểu nhiều điển tích cổ kim". Còn trong cuốn "Việt Nam sử lược", sử gia Trần Trọng Kim đánh giá: "Binh sĩ nghe lời hịch nức lòng, lấy mực xăm vào tay hai chữ  "Sát Thát" (nghĩa giết quân Mông Cổ), và hết lòng chiến đấu chống giặc".

Đến bản dịch "Hịch tướng sĩ" ra thơ

Ngưỡng mộ Trần Hưng Đạo, yêu mến bài "Hịch tướng sĩ", nhà thơ Phạm Thiên Thư đã dày công dịch bài hịch ra thành một bài thơ dài theo thể thơ lục bát, đậm hồn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Việt Nam. Bản dịch bài hịch đó nằm trong tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của nhà thơ Phạm Thiên Thư do Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành và được tái bản vào năm 2012. "Hát ru Việt sử thi" là tác phẩm viết bằng thơ lục bát được nhà thơ Phạm Thiên Thư  viết trong nhiều năm, kể lại những giai đoạn lịch sử quan trọng của nước ta từ thời huyền tích Lạc Long Quân - Âu Cơ đến thời nhà Tây Sơn. Bài thơ dịch bài "Hịch tướng sĩ" nằm trong giai đoạn về nhà Trần của tác phẩm trên. 

Bìa tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của Phạm Thiên Thư.
Bìa tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của Phạm Thiên Thư.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư thổ lộ về nguyên nhân ông chọn viết theo thể lục bát ''vì nó mang đậm hồn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, dễ viết và truyền cảm hơn các thể loại khác. Đồng thời tôi chọn thể thơ lục bát để biên soạn lại những giai đoạn thiết yếu trong lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 và thể hiện dưới hình thức hát ru với hy vọng thông qua những bài hát ru này mà các em có thể hiểu biết về lịch sử cha ông mà có tinh thần yêu nước. Nằm trong dự định đó, tôi thấy bài "Hịch tướng sĩ "rất hay nên nảy sinh dịch nó ra thơ lục bát và đưa vào trong tác phẩm "Hát ru Việt sử thi". Xin trích một đoạn trong bài thơ này: "Truyện xưa nay vẫn truyền đời/ Kỷ Tín nguyện chết bỏ đời thay vua/ Do Vu đỡ ngọn giáo đưa/ Nuốt than Dự Nhượng lòng chưa nguôi thù/ Vì cứu nạn nước cho dù/ Chặt tay Thân Khoái - thiên thu sử hồng…. Huống chi ta với các ngươi/ Làm trai Lạc Việt gặp thời nhiễu nhương/ Nhìn Ngụy sứ diễu ngoài đường/ Cậy Hốt Tất Liệt mà giương oai diều… Ta đây quên ngủ quên ăn/ Lòng đau rơi lệ chéo khăn đầm đìa/ Căm chưa diệt hết giặc kia/ Dầu cho phơi xác cận kề cỏ xanh/ Bọc thây da ngựa cũng đành/ Theo ta ngươi giữ quyền hành đã lâu/ Đói no, sống chết bên nhau/ Khác chi nhân vật sử Tầu, Tống, Nguyên…".

Với những ai đã từng đọc bài "Hịch tướng sĩ" khi đọc sang bài thơ này của nhà thơ Phạm Thiên Thư sẽ thấy ông dịch rất sát với nguyên tác, lại được thể hiện dưới dạng thơ lục bát truyền cảm, dễ nhớ, quả là một đóng góp ý nghĩa và thú vị của thi sĩ họ Phạm cho nền văn học nước nhà. Ngoài việc dịch "Hịch tướng sĩ", nhà thơ Phạm Thiên Thư còn thi hóa các pho kinh Phật và soạn ra Từ điển cười (tên gọi khác là "Tiếu liệu pháp").

Cho đến nay, chưa có căn cứ để xác định ai là người đầu tiên dịch bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ. Các tài liệu cho thấy người dịch sớm nhất có lẽ là học giả Nguyễn Đổng Chi, dịch và công bố bản dịch bài hịch này năm 1941 trong tác phẩm "Việt Nam cổ văn học sử". Sau đó là bản dịch của nhà văn Ngô Tất Tố trong tác phẩm "Việt Nam Văn học: Văn học đời Trần" do NXB Đại Nam ở Sài Gòn ấn hành năm 1960. Kế đó là bản dịch của học giả Trần Trọng Kim trong tác phẩm "Việt Nam Sử lược" tập 1, Trần Trọng Kim, NXB Đại Nam, xuất bản năm 1964 tại Sài Gòn.

Vài nét về nhà thơ Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 ông vào Sài Gòn và định cư ở đó cho đến nay. Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm "Hậu truyện Kiều- Đoạn trường vô thanh" do Á Nam Trần Tuấn Khải tổ chức thi và trao giải. Từ đó, nảy sinh mối nhân duyên giữa ông với con gái của cụ Trần Tuấn Khải, người con gái này sau là vợ đầu của Phạm Thiên Thư.

Có 10 năm đi tu rồi hoàn tục, nên ông có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là "người thi hóa kinh Phật" (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo. Nhiều thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, và trở nên phổ biến trong công chúng, nổi tiếng nhất là bài "Ngày xưa Hoàng thị", "Đưa em tìm động hoa vàng".

Nguyễn Thịnh

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.