Mấy ghi nhận từ thơ Đường

Thơ Đường là một thứ thơ rất cô đọng, thâm thúy và rất hay dùng điển cố. Đó là chưa kể những đắc điểm khác. Vì vậy mà đọc nó, muốn hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu những gì nó đề cập, phải biết nhiều thứ. Nếu chỉ đọc thuần túy trên văn bản, nhiều khi không hiểu hoặc hiểu sai cả bài thơ...
  • Mùa xuân trong thơ Đường
  • Hà Quảng: “Đến với thơ đương đại”
  • Nhân chuyến chiêm ngưỡng một bài thơ đường
  • Nhà thơ Dương Tuyết Lan: “ Của riêng còn một chút này”…

1.Thơ cổ kim, Đông Tây có một đặc điểm chung: viết về tình mẹ con thì rất nhiều, viết về tình cha con thì rất ít (ta chưa bàn ở đây nguyên do của hiện tượng "trọng nữ khinh nam" này).

Tôi thấy trong thơ Đường có một bài vô cùng xúc động viết về cha con, được tương truyền là của nhà thơ Cố Huống (727-816) qua một giai thoại (Cố Huống đỗ tiến sĩ đời vua Đường Túc Tông, nhưng bất đắc chí về đường công danh, thường đả kích những kẻ quyền thế và chế độ phong kiến).

Chuyện kể rằng: Những năm tuổi đã cao, Cố Huống mới sinh được một mụn con trai, nhưng đứa bé bị bệnh chết. Ông đau xót trong một bài tứ tuyệt:

Lão nhân táng ai tử
Nhật mộ khấp thành huyết
Lão nhân niên thất thập
Bất tác đa thời biệt

(Người già đi chôn đứa con yêu quý.

Chiều tà, khóc ra máu.
Người già tuổi bẩy mươi,

Thời gian xa con không còn lâu nữa!).

Bản dịch thơ của Hồng Diệu:

Ông lão chôn đứa con yêu,
Máu hòa nước mắt một chiều đầy vơi.
Ông lão tuổi đã bảy mươi
Ngày gặp con ở cuối trời không xa!

Tôi đã tìm suốt, không thấy bài này ở nhiều tập "Đường thi" của Trung Quốc - kể cả hai bộ sách gần nhất, được làm rất công phu mà sinh viên Bàng Tạ Cẩn Nhất và các bạn của cô ở Vân Nam và Bắc Kinh đã rất nhiệt tình gửi sang Hà Nội tặng tôi; đó là "Đường thi tam bách thủ" (Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, Bắc Kinh, 2015) và "Toàn Đường thi", bốn tập (Thiên Tân cổ tịch xuất bản xã, 2014).

Nếu những câu thơ trên đây đúng là thơ Cố Huống, mà không bộ "Đường thi" nào chọn (dù đã chọn những bài thơ khác của nhà thơ này) thì đó là điều rất đáng tiếc. Còn nếu chúng là thơ của ai chăng nữa thì tác giả nào đó đời Đường cũng đã để lại một bài thơ tuyệt hay và quý hiếm.

2.Thơ Đường là một thứ thơ rất cô đọng, thâm thúy và rất hay dùng điển cố. Đó là chưa kể những đắc điểm khác. Vì vậy mà đọc nó, muốn hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu những gì nó đề cập, phải biết nhiều thứ. Nếu chỉ đọc thuần túy trên văn bản, nhiều khi không hiểu hoặc hiểu sai cả bài thơ.

Tôi bỗng nhớ đến bài tứ tuyệt rất hay của nhà thơ nổi tiếng Đỗ Mục: "Ký Dương Châu Hàn Sước phán quan".

Phiên âm:

Thanh sơn ẩn ẩn thủy thiều thiều
Thu tận Giang Nam thảo mộc điêu
Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ
Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu

(Câu đầu có bản chép: Thanh sơn ẩn ẩn thủy dao dao)

Tôi đã từng thấy bài thơ này được chép trên những chiếc bình gốm rất đẹp.

Dịch xuôi (chỉ căn cứ vào câu chữ có trong bài thơ):

Gửi ông Hàn Sước, phán quan Dương Châu
Núi xanh ẩn hiện, nước sông xa xa.
Cuối thu, cỏ cây Giang Nam xơ xác.
Trăng sáng trên cầu Hai mươi bốn
Người ngọc bây giờ dạy thổi sáo ở đâu?

Khá nhiều điều "mờ nhòe" trong bốn câu thơ mà ta cần biết. Trước hết là ông phán quan Hàn Sước. (Phán quan là một chức dưới quyền Tiết độ sứ). Đây là bạn thân của nhà thơ Đỗ Mục. Hai người có thời làm quan với nhau ở Dương Châu, huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô (vùng Giang Nam). Lại nữa, Dương Châu có một cây cầu tên là cầu Hồng Dược, ở ngoại thành, phía Tây.

Tương truyền ngày trước, có lần 24 cô gái thổi sáo ở đây trong một đêm trăng nên người đời đặt cho nó cái tên "cầu 24". Còn "Ngọc nhân" (người ngọc) ở câu cuối là ai? Rất dễ nghĩ đó là cô gái xinh đẹp. Nhưng theo tôi, trong bài thơ này "ngọc nhân" lại là ông phán quan Hàn Sước, với nghĩa "người ngọc" là người sang trọng, quyền quý, mà đặt vào văn cảnh bài thơ có thể gọi là "ông bạn vàng". Mặt khác, Đỗ Mục lại là nhà thơ phóng túng, đa tình nên cả bài thơ, theo ý riêng tôi sẽ được diễn giải như sau:

Núi mờ mờ, sông xa xa/ Cuối thu, đất Giang Nam cỏ cây xơ xác, điêu tàn/ Đêm đến, trắng sáng rực trên cầu 24/ Làm nhớ đến các cô gái thổi sáo ngày trước. "Ông bạn vàng" của tôi lúc này đang dạy thổi sáo ở đâu vậy (đang vui vẻ, chơi bời với người đẹp ở đâu vậy?).

Bản dịch thơ của Hồng Diệu:

Gửi ông bạn Hàn Sước, phán quan Dương Châu
Sông trắng xa, núi xanh xa.
Giang Nam thu muộn, cỏ hoa âu sầu.
Trăng soi Hồng Dược sáng cầu
Bác dạy thổi sáo ở đâu bây giờ?

Nhìn chung, chỉ đọc bản dịch thơ thì khó hiểu hết một bài thơ chữ Hán. Theo quan niệm của tôi, bản dịch thơ này cũng như bản dịch thơ của một bài thơ Đường hay một bài thơ chữ Hán nào khác, chỉ là một phần trong cả một "hệ thống" để tìm hiểu và thưởng thức những bài thơ ấy.

Phong cảnh trong thơ đường.
Phong cảnh trong thơ đường.

"Hệ thống" này, tôi cho có năm phần: nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch xuôi (còn gọi là dịch nghĩa), dịch thơ, và một phần từ điển. Muốn hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu một bài thơ Đường hay một bài thơ chữ Hán nào khác, không thể thiếu phần nào trong năm phần ấy. (Riêng từ điển, nếu không có thì cũng cần dành chỗ để giải thích các điển cố, tên người, tên đất, các từ khó...).

Nhà thơ Khương Hữu Dụng (1907-2005) là một trong những chuyên gia dịch thơ Đường. Trong quyển "Khương Hữu Dụng tuyển tập - phần thơ dịch" dày gần 1.500 trang, Nhà xuất bản Văn học, 2007, ông có đến gần 500 bản dịch các bài thơ Đường, chưa tính những bài thơ Tống và thơ chữ Hán của các tác giả Việt Nam, cũng như thơ dịch từ tiếng Pháp. Vì dịch nhiều như vậy nên chắc là để sách đỡ dày, chỉ thấy sử dụng ba phần: nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch thơ; trong khi dịch xuôi và từ điển (hoặc phần giải thích tên đất, tên người... như đã nói trên, cũng rất cần thiết) đã không có. Trong quyển sách này, bài thơ "Ký Dương Châu..." trên đây của nhà thơ Đỗ Mục đã được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch như sau:

Non xanh dờn dợn nước xa xa
Thu khắp Giang Nam cỏ chửa già
Đêm sáng trăn cầu Hăm bốn nhịp
Tiếng tiêu người ngọc chốn nào đâu?

Khảo sát từ ngữ trong từng câu thơ của bản dịch này, so với nguyên văn và kết hợp tư liệu đã dẫn ở trên, có thể thấy, câu nào cũng chưa đạt. Già Khương có những bản dịch hay nhưng bản dịch này thì hỏng hoàn toàn, hỏng đến làm cho tôi ngạc nhiên! Đặc biệt, vì không tìm hiểu truyền thuyết về lai lịch cây cầu, nên câu thứ ba, dịch giả mới viết "cầu hăm bốn nhịp"! Không biết, ở thế kỷ XXI này, trên thế giới đã có nước nào xây cầu hăm bốn nhịp (hoặc nhiều hơn nữa) hay chưa, chứ cách đây mười thế kỷ, là lúc nhà thơ Đỗ Mục viết bài "Ký Dương Châu..." nói trên, chắc chắn ở Trung Quốc không có cây cầu nào "hăm bốn nhịp"!

Tôi đã từng đến Giang Tô và nhiều nơi của vùng Giang Nam, là những địa danh liên quan đến bài "Ký Dương Châu...", cũng chẳng thấy chỗ nào có cầu hăm bốn nhịp.

Tôi lại đọc thấy mấy bản dịch khác, có người dịch là "24 cây cầu". Cũng không đúng!

Thế mới biết, hiểu và dịch thơ Đường khó thế nào - mặc dù không phải tất cả các bài thơ Đường đều khó như bài "Ký Dương Châu Hàn Sước phán quan".

Hồng Diệu

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.