(Đọc tập thơ “Mượn lửa mặt trời” của nhà văn Nguyễn Thế Hùng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2020 )

Lửa thơ sáng từ mắt chữ

Một lần chúng tôi ngồi trò chuyện cùng nhà thơ Vũ Quần Phương, ông bảo: “Thơ hay ở cái tư tưởng, rất nhiều bài thơ bây giờ, câu chữ sáng choang, nhưng đọc xong chả thấy đọng lại gì, ấy là do nó không có tư tưởng, nên nó cứ tuột đi”. Nhận xét trên đây của Vũ tiên sinh cũng nằm trong cái nội hàm câu tổng kết của người xưa: “Thi dĩ ngôn chí!”.
  • Hình ảnh lũ lụt trong thơ Việt
  • Mùa hè trong thơ Việt
  • Chuyện lạ ở “Làng thơ” Việt Nam

Quả thật, trong cuộc cách tân, cách mạng của thơ hôm nay, câu chữ, thể thức, hình hài của thơ Việt đang được triển khai làm mới khá rầm rộ. Nhưng thực tế thì những mới mẻ kia phần nhiều mới chỉ dừng lại ở cái vỏ chữ của thơ. 

Cứ mỗi ngày qua đi, thời lượng mà cuộc sống dành cho thơ ngày một ít hơn, bởi thời nay có vô vàn những chia sẻ khác đang ập vào cuộc sống mỗi con người, còn thơ thì cứ loay hoay đập mình ra để xây lại bằng nhiều cách. 

Rồi sau những phá, những xây của thơ hôm nay, dung nhan thơ hiện ra đôi chỗ thì mờ mịt quá, vài chỗ lại thâm sâu quá, mật mã cài đặt nhiều quá, chả có chìa nào mở nổi xem ý tứ trong ấy là gì. 

Bởi vậy mà thời này, thơ kén người đọc và người tìm đến với thơ cứ vơi dần đi, ấy cũng là lẽ đương nhiên. Trong khi đó thì cuộc sống thời hội nhập quanh ta đang hối hả diễn ra, Tổ quốc, quê hương và những kiếp người trong bể phù sinh hôm nay đang có muôn điều cần thơ chia sẻ…

Trung tá, nhà văn Nguyễn Thế Hùng.
Trung tá, nhà văn Nguyễn Thế Hùng.

Vừa mới đây, tôi được đọc tập thơ “Mượn lửa mặt trời” của Nguyễn Thế Hùng - một nhà văn chuyên ngành văn xuôi, lại gặp những chân thành, dung dị, lớp lang quen thuộc đang động cựa trở mình qua hơn một trăm trang thơ cùng những con chữ đầy ắp nỗi niềm! Đọc thơ ấy rồi, xin có mấy dòng tri âm đồng vọng.

Ấn phẩm “Mượn lửa mặt trời” được hình thành từ 3 mạch nguồn cảm xúc chính, là: Tổ quốc, quê hương, Tình yêu lứa đôi và Những trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm về thời thế. Ba mảng cảm xúc này được sắp đặt theo từng nhóm bài rất hợp lý, khiến cho mạch thơ của tác phẩm luôn tự nhiên và thông thoáng.

“Mượn lửa mặt trời “của Nguyễn Thế Hùng vời vợi những cảm xúc yêu tin, trăn trở chân thực về Tổ quốc, quê hương và những kiếp người. Với thi ca, để làm nên những bài thơ hay thì điều tối cần thiết là cái hồn thơ, tình thơ nồng đượm, chứ đâu phải ở sự mới lạ của câu chữ, của hình thức thơ: “Đường lên dãy Giăng Mà giăng mắc/ Bao tháng năm bóng áo lính trập trùng/ Những đoàn quân chân đi không bén đất/ Chỉ mong ngày OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao hết lao lung” (Chợ Phố). 

Thơ với Nguyễn Thế Hùng là phương tiện để chuyển tải tình yêu Tổ quốc, quê hương cùng cuộc đời này: “Đã bao lần giặc lăm le phên giậu/ Núi thâm trầm trận địa lòng dân/ Muốn nước yên hãy nhờ dân giữ nước/ Thế gốc bền là thế dựa vào dân” (Nếu thương dân hãy cho con ra trận).

Thơ với Nguyễn Thế Hùng là tròn trịa một nỗi yêu. Cái yêu từ ý thức, từ tinh thần Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, và từ một trái tim đập theo nhịp trường tồn của Tổ quốc, quê hương: “Thôi về thôi họ đã thành mây trắng/ Neo ngàn đời vào núi đá Vị Xuyên/ Mỗi linh hồn vẫn còn giăng thành lũy/ Cho yên bình phên giậu Hà Giang” (Viết ở mặt trận Hà Giang xưa). 

Cái chất chữ ấy, nghĩa ấy rõ ràng là của một nhà văn luôn đặt Tổ quốc, quê hương thiêng liêng lên mỗi trang viết. Mỗi cảm xúc, mỗi nguồn cơn của thơ được tác giả nâng tầm trong cách nhìn mới, độc đáo và luôn có tính dẫn gợi: “Nếu thực/ có kiếp sau/ Tôi xin được làm một phiến đá/ Mẹ Tổ quốc hãy khắc lên lưng tôi/ lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 mình/ chôn xuống thật sâu/ khỏa bằng huyệt mộ/ để người chơi cờ/ không xóa đi những ván cờ thế…” (Lịch sử).

Đỗ Phủ thi thánh đã từng nói về việc dùng chữ trong thơ: “Ngữ bất kinh nhân tử bất an” (Làm thơ mà dùng chữ không khiến người khác nể sợ, thì chết không nhắm mắt), đọc thơ Nguyễn Thế Hùng, thấy nhiều lắm những câu chữ quen thuộc của OK9giaitri đăng nhập, đã được anh mã hóa thành ngôn ngữ thi ca, để tự chúng nhân bản mình lên mà chở cái ý rộng dài của người viết: “Neo quê còn mỗi mẹ già/ Bốn tao nôi mỏng chia ra ba miền/ Cha giờ hóa nắng Điện Biên/ Hai anh hóa cát Trị Thiên bời bời/ Xòe tay mượn lửa mặt trời/ Đốt mây gom khói gửi người còn xa” (Mẹ già neo lại đất quê).

Bìa tập thơ “Mượn lửa mặt trời” của Nguyễn Thế Hùng.
Bìa tập thơ “Mượn lửa mặt trời” của Nguyễn Thế Hùng.

Thơ Nguyễn Thế Hùng có tư tưởng, nên trong thơ ấy, cái ý, cái tình thơ mà người viết hướng đến mới là điều làm trọng: “Ta có kịp về trước lúc mưa chan/ Nơi thời gian thắm quết trầu bậu cửa/ Thắp nén hương đốt một thời nênh nổi/ Đất mẹ neo con từ phía xóm làng (Chuyến tàu thời gian). 

Những câu thơ mà tác giả đã gây chụm nên từ gan ruột miền Trung trổ lên câu chữ như thế này, cứ bền bỉ, ngân nga bằng sự dung dị mà khéo léo, rồi nhập vào bất cứ trang lòng người Việt nào mà nó tiếp cận: “Bốn đứa con như bốn tao nôi/ no tiếng ru rồi bay đi mỗi ngả/ mẹ thương con đường về vất vả/ nên cứ bảo đừng về, mẹ khỏe chớ lo” (Chớm thu). 

Những trang tình quê trong “Mượn lửa mặt trời”, dẫu đã ít nhiều được mã hóa bằng ngôn ngữ thơ, nhưng trong cái vỏ chữ của thi ca vẫn là những ngậm ngùi trần trụi: “Hà Tĩnh gầy như cái cần câu/ một đầu cắm vào bờ thành Vinh/ một đầu cắm vào đèo Ngang đang nghèo/ Dân tôi ước đèo Ngang thành đèo Nghếch/ để gió Lào bớt thổi rát đồi khe” (Mưa trên bến Giang Đình). 

Đọc thơ về mẹ, về quê trong tập này, thấy nhiều lắm những bức phù điêu dựng lên từ chữ nghĩa như thế: “Gió hào phóng cứ thức suốt đêm hè/ để lúa lép mãi bay vào mắt mẹ/ cả một đời chỉ quần đen áo cộc/ Mẹ quên mình, quên cái đói Giêng Hai” (Quên).

Văn sỹ Nguyễn Thế Hùng rẽ ngang vào một cuộc “lên đồng” với thơ, mới hiện ra chữ nghĩa thế này: “Tháng Ba tôi về/ hoa gạo đỏ như bát hương vừa hóa/ cầu gì lên trời xanh, khấn gì ở đất/ đất lành thế sao chim không đậu?/ Đừng thổi nữa gió mùa giáp hạt/ thổi chi nhiều bạc phếch râu cha” (Tháng ba).

Những câu chữ trong ấn phẩm “Mượn lửa mặt trời” sinh ra từ miền Trung sỏi đá, lại được tôi luyện trong muôn nỗi cuộc người, nên nó không chỉ là chia sẻ, là đồng cảm cùng phận người, phận đất, mà  nhiều bài thơ trong tập này chạm đến những điều lớn lao, chạm đến những mặt khuyết, những góc tối của thời thế hôm nay: “Cháu/ tựa vành nôi/ Ngủ trên đôi cánh đại bàng/ Tin rằng Lý Thông đã chết/ lẫm chẫm bước/ Cháu vấp vào cơ chế/ Mẹ/ sấp mặt ngửa mày/ mót niềm tin giáp hạt/ Cha/ tân binh ngơ ngác đời thường/ trước ngổn ngang thời hậu chiến/ Chiều xám buồn/ Bà/ rũ váy/ ra phơi” (Tựa).

Nguyễn Thế Hùng là một nhà văn tên tuổi ở mảng văn xuôi. Nhưng đọc thơ của anh, người ta không bị cái “chất” rành mạch của văn xuôi ám vào ngôn ngữ thơ. Có như thế thì độc giả mới được gặp một Nguyễn Thế Hùng thi sỹ qua những câu thơ như thế này: “Người gom về cả tướng lẫn vương/ Anh hành khất từ ấy lỡ độ đường/ Tìm nhau từ Tràng Kênh/ Lại gặp sư ông chùa Mỹ Cụ…/… Trời xa chạm ngõ thiên di/ Anh sợ mình đi lạc/ Thêm một lần trong đôi mắt Thủy Nguyên xanh” (Một lần Thủy Nguyên). 

Ngạc nhiên ư? Sửng sốt ư? Rằng thì là với thơ, cái duyên chữ cho ai người ấy được, vậy nên khối ông bà nhà văn viết văn xuôi rất búa bổ, nhưng trước một tứ thơ nảy ra trong đầu là phải lúng túng xoay ngang sửa dọc ngôn ngữ để văn bản hiện lên chữ của thơ. 

Sinh thời cụ Lê Đạt bảo: “Chữ bầu lên nhà thơ”, thì đây, “chữ” của ông nhà văn có tiếng trên văn đàn trong suốt thập kỷ vừa qua với “Lộc trời”, với “Họ vẫn chưa về” hiện lên trong thi ca như thế này: “Dẫu biết sẽ chẳng là vàng đá/ em loa kèn tháng Tư/ cắm trong bình nhà người/ đêm ấy dậy hương”… (Hoa lãng tử). Cái chất thi nhân ủ men vào chữ mới thành ngôn ngữ của thơ: “Uống đi mình, uống đi em/ Quờ trăng làm nậm ta đem men về/ ta còn tỉnh giữa cõi mê/ Uống cho trăng cạn mà về chính ta” (Uống cho trăng cạn). Sự sáng tạo của thi ca nằm ở cái tinh tế, cái chuyển động trong lòng chữ, chứ đâu phải ở cái mới lạ của vỏ chữ mà nên: “Chân guốc nhỏ lên cầu thang váy ngắn/ hương còn theo qua phía vườn hồng” (Hà Nội sông).

Đọc “Mượn lửa mặt trời”, ta được tiếp cận từng cung bậc cảm xúc thơ của một nhà văn đang cặm cụi hành nghề lọc chữ (Nguyễn Thế Hùng hiện đang gắn bó với tờ Văn nghệ OK9 trang cược thể thao xanh chín nhất châu Á). Ấn phẩm thơ này, chắc chắn sẽ nhận được nhiều sự tương tác tích cực từ văn giới và độc giả, bởi tác giả của nó là một tên tuổi quen thuộc của nền văn học đương đại. 

Rồi đây, cái đầy cái vơi về Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 của nó sẽ còn được bàn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ, nhưng trước hết, điều đáng ghi nhận là những trang thơ trong trẻo dung dị, gần gũi của nhà văn Nguyễn Thế Hùng đã tiếp cận và tương tác được với những buồn vui của non sông, OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao, cùng những nỗi niềm người trong cuộc sống hôm nay. Với thơ, đấy là một sứ mệnh!

Lĩnh Nam, 25/11/2020

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.