Khu lăng mộ của những huyền thoại

Chìm trong khu rừng khộp thưa lá thâm u ven con sông Sêrêpôk, nơi yên nghỉ của những huyền thoại săn voi phủ màu rêu phong, đổ nát, tĩnh mịch. Trong nắng quái chiều tà, câu chuyện kỳ bí về những chàng Đam San của núi rừng một thời vẫn in đậm trong dấu ấn đại ngàn, trong ký ức hậu duệ "vương quốc voi" Buôn Đôn.

  • Bí ẩn khu lăng mộ của các gru giữa rừng già Yok Đôn

Nghĩa trang gru (dũng sĩ săn voi) nằm ở thung lũng hẻo lánh thuộc địa phận xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk. Không phải ai cũng có thể tự do vào nơi đây. Muốn đến tham quan, tìm hiểu, người đó phải có hướng dẫn viên Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá hoặc thân quyến các ngôi mộ dẫn vào. Người M'nông và Ê Đê quan niệm nếu không có lý do gì mà đến đây nghĩa là xâm phạm nghĩa trang, làm kinh động đến các linh hồn đang yên giấc ngàn thu. Theo chân chị H'Khoi, cháu ngoại vua săn voi Ama Kông, chúng tôi men theo con đường rừng quanh co, đầy bụi rậm, cây tạp để vào đến "thung lũng gru" trong buổi chiều nắng xế.

Chị H'Khoi cho biết: không phải ai cũng có phúc phần được nằm ở nghĩa trang đặc biệt này. Chỉ những gru săn được hàng chục con voi rừng trở lên mới có được vinh dự chôn cất ở đây. Do đó, khu nghĩa trang rộng hơn 10 hecta này chỉ có vài chục ngôi mộ cũ kỹ, xuống cấp. Thế hệ con cháu sau này không ai có được vinh dự đó bởi số lượng đàn voi rừng sụt giảm cộng với chính sách cấm săn bắt voi rừng.

Khu lăng mộ của những huyền thoại  -0
Mộ vua săn voi Y Thu Knul (trái) và người cháu ở trung tâm nghĩa trang.

Nhiều người vẫn nhầm tưởng những người được chôn cất ở đây đều là vua săn voi. Chị H'Khoi khẳng định, vua săn voi chỉ có một. Đó là ngôi mộ khối vuông của vua săn voi Y Thu Knul nằm ở vị trí trung tâm nghĩa trang. Những phần mộ còn lại chỉ là của các gru đơn thuần. Sở dĩ ông tổ nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Y Thu Knul được người dân tôn vinh là vua voi bởi danh hiệu này được chính quốc vương Xiêm La ban tặng.

Năm 1861, ông mang tặng hoàng gia Thái Lan con voi trắng do chính mình thuần dưỡng. Người xưa quan niệm voi trắng là hiện thân của bậc vua chúa, là linh vật mang đến sự thịnh vượng cho vương triều. Để cảm tạ tấm chân tình của vị tù trưởng người M'nông, vua Xiêm tặng ông danh hiệu Khunjunob (nghĩa là vua săn voi). Với bất cứ gru nào, tiếng tăm sẽ càng lừng lẫy khi họ săn được bạch tượng bởi săn loài voi quý hiếm này không dễ. Sinh thời, Y Thu Knul khiến các bộ tộc gần xa thán phục khi chinh phục hơn 500 con voi rừng, trong đó có hai con voi trắng. Một con tặng cho vua Xiêm, một con tặng cho vua Bảo Đại.

Ông Ama Tăng, một cao niên ở Buôn Đôn kể rằng vua săn voi Y Thu Knul có bố là người M'nông, mẹ gốc Lào. Ông chính là người khai phá và sáng lập ra mảnh đất Buôn Đôn huyền thoại - nơi quy tụ những dũng sĩ săn voi dũng mãnh. Cuộc đời vị tù trưởng quyền uy này như tiếng chiêng vang rền núi rừng.

Y Thu sinh năm 1828 ở vùng biên giới giáp đất Campuchia. Người mẹ đau đớn vật vã ba ngày ba đêm mà mãi không đẻ được. Người nhà sợ quá, làm heo, làm gà cúng tế thần linh, nhưng thằng bé cứng đầu ấy chẳng chịu chào đời. Buổi trưa hôm thứ tư, trước gian nhà của người đàn bà đau đẻ bỗng xuất hiện con ngựa rừng to lớn chạy vòng quanh, tiếng khóc Y Thu mới vỡ òa khiến bầy chim xao xác. Thằng bé càng lớn càng khỏe mạnh phi thường. Cơ bắp rắn chắc, ánh mắt tinh anh và tiếng nói ầm ào, vang rền như thác lũ đại ngàn. Người trong buôn coi thằng bé là con của đấng thần linh.

Khi Y Thu trở thành chàng thanh niên vạm vỡ, gia đình không may bị bắt nhốt vào hang đá trong một cuộc tranh chấp giữa các bộ tộc. Y Thu thoát cuộc vây bắt, chạy đến vùng đất thuộc huyện Buôn Đôn ngày nay cầu cứu. Sau khi giải cứu được mẹ và người nhà, anh đưa họ đến nơi lánh nạn khai khẩn đất hoang, quên đi cuộc chiến đau thương. Vùng đất hứa được Y Thu đặt tên là Buôn Đôn (theo tiếng Lào nghĩa là Làng đảo). Nhưng ruộng nương chưa kịp thu lúa bắp thì bị lũ voi rừng đến quấy phá, dẫm nát. Y Thu bèn huy động trai tráng trong buôn săn bắt và thuần dưỡng voi rừng để chúng bớt phá rẫy, lại có thêm phương tiện thồ hàng, kéo gỗ.

Sức vóc hơn người cộng với tài trí mưu lược, ông được người làng suy tôn làm tù trưởng. Dù giàu có, quyền lực nhưng vị tù trưởng ấy được người dân tin yêu vì sự bao dung, đức độ. Ông thường xin hoặc mua lại những kẻ bị bán làm nô lệ hoặc ai không may bị quy là "ma lai" rồi thả cho họ tự do. Ai bị khép vào tội ăn cắp, nếu thấy họ biết ăn năn, hối cải, ông cũng đứng ra dàn xếp để họ có cơ hội về với gia đình, sửa chữa lỗi lầm. Năm tháng chống Pháp, nhiều người trong buôn bị quân Pháp bắt đăng lính, Y Thu không ngần ngại đổi ngà voi và nhiều vật phẩm quý để xin cho họ. Tài đức của Y Thu khiến vùng Buôn Đôn ngày càng có nhiều bộ tộc dừng chân lập nghiệp. Người dân Tây Nguyên, các quốc gia láng giềng lẫn người Pháp hết sức nể trọng, kính phục ông.

Vua săn voi Y Thu Knul mất năm 1938, thọ 110 tuổi. Sự ra đi của vị tù trưởng đáng kính khiến người dân lẫn chức sắc gần xa vô cùng thương tiếc. Mộ của ông do người cháu R'leo Knul (gọi Y Thu Knul bằng cậu) thiết kế. Ngôi mộ là một khối vuông giản dị, được trang trí bằng búp sen ở bốn góc và phần đỉnh theo lối kiến trúc kết hợp giữa văn hóa M'nông và Lào.

Khu lăng mộ của những huyền thoại  -1
Bia đá ghi rõ công lao của gru Y Dot Knul.

Người cháu R'Leo (sinh năm 1877) cũng là một kiện tướng săn voi. Ông từng tặng vua Bảo Đại một con voi trắng và thành lập cho nhà vua đội tượng binh hoàng gia. Sau khi mất vào năm 1947, mộ người cháu nằm cạnh mộ vua voi, được OK9 đã banh theo kiến trúc hình tháp kiểu Campuchia. Chính vì hai ngôi mộ liền kề nhau và sự nổi trội của ngọn tháp khiến nhiều người nhầm tưởng ngôi mộ này là của vua săn voi. Ama Kông, con rể của Y Thu Knul, được xem như vị vua voi thứ hai nhưng mộ phần của ông lại không an táng ở khu nghĩa trang này. Theo chế độ mẫu hệ, mộ phần của Ama Kông được an táng bên cạnh mộ người vợ đầu ở buôn Trí, cách khu nghĩa trang ba kilomet.

Các ngôi mộ được OK9 đã banh về sau mang nhiều kiểu dáng và trang trí sặc sỡ hơn hai ngôi mộ mộc mạc, uy nghiêm của tiền nhân. Mộ của các gru được đắp nổi hình voi, hình cồng chiêng, trước một số mộ có tượng chim công đậu trên ngà voi bằng gỗ sơn xanh. Tượng voi đắp ở bốn phía như canh giấc ngàn thu cho người đã khuất. Chim công là thiên sứ của thế giới bên kia, dẫn đường cho linh hồn về nơi an nghỉ. Không ít mộ ghi rõ tên tuổi, công lao của người quá cố. Chẳng hạn bia ghi công của gru Y Dot Knul ghi rõ ngày tháng lập mộ và chiến tích: khai hoang ruộng được 5ha, đâm bò và min rừng (tức trâu rừng) được 36 con, bắt và thuần dưỡng 28 voi rừng. Nhưng nắng mưa thời gian làm không ít bia đá nứt nẻ, bong tróc chữ làm phai mờ chiến tích lẫy lừng ngày nào. Muốn biết chuyện xưa, ký ức người ở lại là nơi soi chiếu duy nhất dù rằng câu chuyện ấy khi mờ, khi tỏ trong trí nhớ người cao niên.

Lý giải vì sao các ngôi mộ đều xuống cấp, hoang tàn, chị H'Khoi cho hay vì Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 M'nông và Ê Đê đều có tục bỏ mả sau khi người chết được an táng khoảng ba đến năm năm. Trong quan niệm của hai Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 này, khi mới chết, người nhà vẫn chia của cho người chết vì linh hồn của họ vẫn giữ mối liên hệ với người sống. Nhưng sau nghi lễ bỏ mả, người chết sẽ siêu thoát về thế giới bên kia, không ở cùng người sống nữa. Nghi lễ bỏ mả có nghĩa là tiễn biệt người chết lần cuối với các thủ tục như cúng heo, gà, dựng tượng nhà mồ. Ai còn bén mảng đến ngôi mộ sẽ bị thần linh trừng trị. Dù luật tục nghiêm khắc là thế nhưng kẻ gian vẫn tìm đến nghĩa trang để kiếm chác. Ngôi mộ vua săn voi và người cháu từng bị bọn trộm đục khoét lấy hết vàng bạc, của cải mà người nhà chia cho người chết cũng như báu vật mà vua Xiêm, vua Bảo Đại và các tù trưởng gửi tiễn linh hồn người đã khuất.

Rời nghĩa trang khi bóng chiều nhập nhoạng, ngoái nhìn những ngôi mộ lạnh lẽo dần chìm vào màn đêm, chúng tôi chợt cám cảnh cho một di tích hoang phế. Dù ngành Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá đã vận động, khuyến khích người nhà chăm nom, tu bổ để tiện cho việc bảo tồn nhưng luật tục của đồng bào đâu dễ lay chuyển. Câu chuyện hùng tráng một thời, có tiếng voi gầm vọng núi rừng gửi lại trong lớp hậu duệ dòng tộc. Để ai một lần ghé Buôn Đôn, thêm ngỡ ngàng và kính phục những gru - những anh hùng làm nên huyền thoại của loài người chốn rừng sâu.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.