(Ấn tượng về “Hà thành hương xưa vị cũ”, tạp bút của Vũ Thị Tuyết Nhung, Nxb Hà Nội, 2021)

Hương chưa xưa vị chưa cũ

Khi đọc 563 trang sách khổ lớn (16x24) Hà thành hương xưa vị cũ của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung, riêng tôi lại nghĩ, hương chưa xưa vị chưa cũ nếu đó là cái đẹp đích thực, bởi vì cái đẹp có khả năng đứng ngoài quy luật của sự băng hoại.
  • Ra mắt Hiệp hội Ok987 ưu đãi độc quyền ẩm thực Việt Nam
  • Lễ hội Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá văn hóa ẩm thực “Ngày hội quê tôi”

Văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội đã được đúc kết trong sách Tuyển tập tác phẩm về văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội (Phạm Quang Long - Bùi Việt Thắng tuyển chọn và giới thiệu, NXB Hà Nội, 2010). Tưởng chừng như đã đầy đủ nếu người đọc muốn thưởng thức vẻ đẹp văn hóa của ẩm thực đất Kinh kỳ trong chiều dài lịch sử thời gian 1000 năm. 

Nhưng khi đọc 563 trang sách khổ lớn (16x24) Hà thành hương xưa vị cũ của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung, riêng tôi lại nghĩ, hương chưa xưa vị chưa cũ nếu đó là cái đẹp đích thực, bởi vì cái đẹp có khả năng đứng ngoài quy luật của sự băng hoại.

Đọc tạp bút của Vũ Thị Tuyết Nhung, càng củng cố trong chúng ta xác tín - không có chuyện đề tài cũ hay mới, chỉ có điều người viết có tâm huyết và tài năng hay không. 

Tác giả thuộc kiểu “hai trong một” (tốt nghiệp đại học ngành văn, hành nghề báo, nguyên Trưởng Ban biên tập Ok987 ưu đãi độc quyền Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, Đài PT - TH Hà Nội), nên những trang viết vừa có cái náo hoạt của một ngòi bút “tân văn”, lại vừa có cái lắng đọng, điềm tĩnh, sâu lắng của người đắm đuối văn chương.

Bìa cuốn “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung.
Bìa cuốn “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung.

“Hà thành hương xưa vị cũ” được kiến thiết từ hai phần: Phần một (Ký ức từ căn bếp cổ), Phần hai (Miếng ngon từ làng ra phố). Khi viết về cuốn sách của Vũ Thị Tuyết Nhung, tôi chợt đọc thấy tin trên báo điện tử VnExpress (14-3-21): “Trường THPT Hai Bà Trưng (TP Huế) được Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thí điểm dạy môn học “Nữ công gia chánh”, bắt đầu từ năm học 2021-2022”. Lập tức cư dân mạng sôi réo dư luận. 

Một nữ nhà văn Việt định cư ở nước ngoài viết trên Blog cá nhân, giật tít “Đảm đang tôm rang hành mỡ: Tôi không can ai nuôi chí đảm đang tôm rang hành mỡ, chỉ xin tiết lộ trong nhà tôi, ngôi đảm đang số một hiện nay thuộc về chiếc lò hấp nướng đa năng Miele (...). Càng nghèo khó lạc hậu, càng thủ cựu tăm tối, càng cần phụ nữ đảm đang”. 

Cái giọng chì chiết, đay nghiến đồng bào mình này là ai, tôi không cần nhắc tên cụ thể, hẳn nhiều người biết rõ. Một liên hệ tạt ngang như thế để rồi cùng người đọc bỏ lại sau lưng mọi định kiến đi vào “căn bếp cổ” của Vũ Thị Tuyết Nhung. 

Có lẽ tôi thuộc thế hệ “người muôn năm cũ” nên thích những món trong căn bếp cổ này chăng: Ấm chè xanh ngày cũ; Bát canh dưa chiều đông ấm; Bát cơm rượu cho bà ngoại xứ Thanh; Cái chạn bếp trong ngôi nhà xưa; Canh chua Hà Nội bốn mùa đắp đổi; Điểm danh mấy món nộm cổ truyền Hà Nội; Hai món chè Tết cổ truyền Hà Nội; Thơm hương bánh giò nóng; Quả sấu đầu hè yêu nhớ; Mía ướp hoa bưởi; Kỷ vật từ căn bếp nhà mẹ,... 

Tôi chỉ chấm phá đôi ba món trên tổng số hơn bốn mươi món như là những thời trân trọng căn bếp cổ của cư dân Hà Thành xưa (và có thể nay). Tôi mồ côi mẹ từ lúc lên ba (1954) nên trong tiềm thức bóng hình mẹ trở nên mơ hồ, đôi lúc trong mơ thổn thức tìm kiếm một hình ảnh ruột rà mà khó thay. 

Nên khi đọc “Kỷ vật từ căn bếp nhà mẹ” đã đồng cảm ngay với tác giả: “Này là chiếc tráp trầu khảm trai bịt đồng. Mẹ tôi hồi còn sống hay bày chiếc tráp ấy trong ngăn tủ chùa cũng khảm trai, trông thật là long lanh óng ánh. Hằng ngày, mẹ chỉ thường dùng chiếc âu trầu bằng đồng thau xinh nhỏ. Lễ tết, cưới hỏi mẹ mới trưng ra chiếc tráp trầu khảm trai. Tôi từ thời thiếu nữ đã biết têm trầu cánh phượng, thi thoảng giúp mẹ bày trầu trên ngăn mặt tráp để các thím, các mợ trong họ đi xin dâu. Tự mình cũng mê chiếc tráp và những khẩu trầu têm cánh phượng có mấy tua lá xanh biếc cắt răng cưa bay bướm và miếng vỏ quế tỉa mào phượng đỏ chót gài trên cánh hoa hồng. Trong lòng tráp, mẹ hay cất mấy thứ đồ lặt vặt như bộ xà tích bạc có ống vôi quả đào xinh xắn, chùm chìa khóa cũ han gỉ...”. 

Thế hệ như tác giả (SN 1957) và tôi thường thích thú khi tự mình đi tìm thời gian đã mất theo lối sống chậm, hoài niệm dĩ vãng, ôn cố tri tân như một động hướng tinh thần.

Phần thứ hai của sách có tựa “Miếng ngon từ làng ra phố”. Trước khi thưởng thức phần này, tôi đã cẩn thận và kỹ lưỡng đọc lại danh tác “Miếng ngon Hà Nội” (bắt đầu viết tại Hà Nội, mùa thu năm 1952; sửa chữa và viết thêm tại Sài Gòn các năm từ 1956 đến 1959) của nhà văn Vũ Bằng. Đọc để biết rằng mình có bị mất thời gian về những cái “biết rồi khổ lắm nói mãi” hay không. 

Thật bất ngờ khi 39 miếng ngon từ làng ra phố trong phần này là bản quyền của Vũ Thị Tuyết Nhung, vì thế mà trong “Lời giới thiệu”, nhà phê bình Văn Giá (đồng môn thời đại học của tác giả sách) đã âu yếm viết về Ẩm thực Hà Nội của Nhung: “Tôi cứ mường tượng ra cái cảnh ai đó trong một đêm đông đã chui vào chăn ấm, đang thả lòng vào những trang viết “Hà thành hương xưa vị cũ”, rồi bất thần không chịu được mà vùng dậy lao xuống phố đi tìm món ăn món uống Hà Nội nào đó của Nhung... Chẳng phải đó là một hạnh phúc thật dễ thương sao!”. 

Trong mục “Trước khi ngừng bút” in cuối “Miếng ngon Hà Nội”, nhà văn Vũ Bằng tha thiết viết: “Duy chỉ có miếng ngon Hà Nội là không đánh lừa ai cả. Miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng trung thành, êm ái, miếng ngon Hà Nội bao giờ chiếm được lòng ta như một người vợ hiền chiếm được lòng chồng (...). Miếng ngon Hà Nội cũng thế, cũng trầm lặng như vậy”. Tất nhiên, Vũ Thị Tuyết Nhung cũng là người Hà Nội gốc. “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”, của thế hệ sinh sau hòa bình (1954), ít nhiều còn neo giữ được chất Hà thành so với các thế hệ sau này. 

Đọc “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung tôi có chủ ý đi tìm cái nét biệt sắc lối viết của thế hệ 5X. Những “miếng ngon” này rõ ràng là mang tính Ok9cab Link Chính Thức, thời đại của riêng Vũ Thị Tuyết Nhung: Cơm cặp lồng ngày ấy bây giờ; Những món ăn dành cho gái đẻ; Nhớ hai món giò ngon Thái Bình; Quà trung du trám trắng, trám đen; Tản mạn chuyện cà riềng cà tỏi; Một vòng quê ngoại - khu phố ẩm thực Ngũ xã,... 

Tôi là dân xứ Nghệ từ trong máu huyết, nhưng khi đọc “Tản mạn chuyện cà riềng cà tỏi”, mới thấy tác giả viết về “cà Nghệ” như thể là người đồng hương chính cống của mình. Dẫu tác giả có vân vi: “Gọi tên giống cà Nghệ như thế, không biết là có phải do nó có gốc gác từ xứ Nghệ xa xôi, hay là để nhắc đến cái màu vàng như màu củ nghệ của quả cà già để giống cho vụ sau”. 

Mà cũng không ai, tôi nghĩ, đem chuyện này ra phân xử đúng sai rành rẽ. Tác giả là người của thời bao cấp khốn khó nên mới viết tỉ mỉ (pha chút u-mua) cái chuyện “Cơm cặp lồng ngày ấy bây giờ”. Giọng văn hơi đỗi bùi ngùi xót xa về một thời đói khổ tận cũng theo nghĩa đen của từ này. 

Bài này viết theo trải nghiệm sống, cả trải nghiệm văn hóa qua hình ảnh cái cặp lồng cơm thô sơ đầu những năm tám mươi thế kỷ trước và những chiếc cặp lồng cơm hiện đại thời nay. Thật là một trời một vực. Người không qua gian khổ không hiểu được niềm vui khi từ bé đã ấm no, đầy đủ tiện nghi. 

Tác giả chia sẻ: “Thế đấy, các con tôi, chúng không biết rằng người Hà Nội đã từng trải qua bốn đời cơm cặp lồng từ thô sơ đến hiện đại. Đâu có dễ từ bỏ thói quen đã ăn sâu trong nếp sống hằng ngày. Những chiếc cặp lồng như những vật chứng của lịch sử ăn uống, sinh hoạt gắn với biết bao no đói, buồn vui của mấy thế hệ người Hà Nội trong nửa thế kỷ qua. Có lúc chúng được quý hóa giữ gìn, có khi lại bị xa rời, bỏ bẵng”.

Cuối bài viết nhỏ về tác phẩm “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung, tôi muốn nhấn mạnh thêm một ý - sách dày nhưng đọc không chán, ngoài cái tình với Hà thành văn vật, còn có cái duyên thầm của chữ nghĩa. 

Đúng vậy “Văn chương là Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 ngôn từ”. Giữ cho được cái nhiệt hứng khi viết về văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội trong một độ dài gần 600 trang sách khổ lớn đã là khó. Giữ chân độc giả ngày nay thông minh hơn nhưng khó tính hơn, càng khó. Nhưng thật ngoạn mục, khi tác giả đã thực thi được một nhiệm vụ kép - làm đẹp con chữ qua đó hiển hiện vẻ đẹp của văn hóa ẩm thực chốn Kinh kỳ.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.