Hoài niệm Tết trong thơ xưa

Trong thơ Việt từ trước tới nay, Tết đi vào thơ của mọi thời và của nhiều người, song những cái Tết trong thơ làm tôi nhớ nhất thuộc về thời Thơ Mới lãng mạn 1932 - 1945...
  • Hồn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 qua tranh Tết xưa
  • Nhớ tết xưa ở Mường Trời
  • Bịn rịn Tết xưa
  • Tết xưa, Tết nay

Đời người, trong tất cả những năm tháng đã qua cũng như những năm tháng của tương lai, Tết bao giờ cũng là một khoảng thời gian thiêng liêng, lắng đọng, mang đến cho mỗi chúng ta thật nhiều xúc cảm. Người thì đến với Tết bằng đoàn tụ sum vầy, người thì đến với Tết bằng lạc quan hy vọng, người thì đến với Tết bởi những khắc khoải nhớ thương…

Mở lại hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân, thi phẩm đầu tiên gắn với Tết mang lại cho ta bao cảm xúc bùi ngùi, buồn thương của một lớp người đã tàn phai, đã dần xa những con người của thời hiện tại. Đó là bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên. Hình tượng trung tâm của tác phẩm là ông đồ cho chữ, đại diện cho một lớp người với thú vui tao nhã thanh cao.

Tác phẩm gián tiếp phản ánh với chúng ta một biến cố quan trọng trong OK9giaitri đăng nhập văn hóa Ok9 cab trò chơi casino phổ biến của OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao, đó là sự "thất sủng" của chữ Hán bởi chế độ khoa cử bằng chữ Hán đã lần lượt bị xóa sổ ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Một góc thầy đồ viết chữ trong chợ Tết xưa của người Việt.
Một góc thầy đồ viết chữ trong chợ Tết xưa của người Việt.

Địa vị của chữ Hán thay đổi khiến cho những người tìm đến ông đồ xin chữ, xin câu đối càng ngày càng ít hơn xưa, để rồi: "Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay/ Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ".

Thực ra, toàn bài thơ không có một chữ Tết nào, nhưng cái không khí Tết mà thi phẩm gợi ra là một điều có thật. Không khí Tết ấy đến từ hoa đào nở, từ cảnh ông đồ ngồi cho chữ. Và rồi cuối cùng, cũng là một cái Tết nhưng thay vào đông vui nhộn nhịp lại là sự cô đơn lẻ loi của một người ngồi bên lề, đã bị lãng quên…

Cũng viết về Tết nhưng với Đoàn Văn Cừ lại là một cách tiếp cận khác. Bài thơ "Chợ Tết" nổi tiếng của ông gồm 44 câu chính là một trong 4 tác phẩm được Hoài Thanh - Hoài Chân tuyển chọn để đưa vào "Thi nhân Việt Nam". Thi sĩ đã tái hiện sống động quang cảnh của chợ Tết ở một vùng nông thôn Bắc Bộ với đủ các sắc màu, nhân vật, hoạt động vô cùng phong phú, đa dạng. Trong đoạn đầu, ta bắt gặp màu trắng của mây, màu đỏ của đỉnh núi, màu xanh của mép đồi, màu biếc của cỏ, màu đỏ của áo thằng cu, màu trắng của giọt sương, màu xanh của núi.

Ở đoạn tiếp theo, ta bắt gặp một loạt các nhân vật với các hoạt động khác nhau như anh hàng tranh thì gánh đôi bồ, thầy khóa thì viết chữ, cụ đồ vuốt râu đọc câu đối, bà cụ bán hàng, cụ lý bị sấn kéo, lũ trẻ con ngắm tranh, các cô gái cười rũ rượi, một anh chàng bán pháo, một người mua gà đang kiểm tra gà. Thế nhưng ở đoạn cuối cùng với 6 câu khép lại tác phẩm, những huyên náo sống động được thay thế bằng sự vắng lặng u buồn bởi chợ Tết đã tan.

Nếu như ánh mặt trời xuất hiện trong đoạn đầu của bài thơ được diễn tả gắn với những cảm xúc vui tươi: "Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa/ Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh/ Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh"; thì ánh mặt trời trong đoạn kết thúc đượm buồn, được đặt bên cạnh hình ảnh lá rụng: "Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê/ Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ". Dường như thi sĩ cố tình tránh nỗi buồn thời đại mà rồi cuối cùng vẫn không thể chối bỏ, không thể lãng quên được. Nỗi buồn vẫn xuất hiện như một day dứt khôn nguôi trong lòng người.

Nếu như Vũ Đình Liên và Đoàn Văn Cừ, mỗi người chỉ có một bài thơ nổi danh về Tết, thì một thi sĩ lãng mạn cùng thời khác là Nguyễn Bính đã viết rất nhiều câu thơ Tết, bài thơ Tết.

Đầu tiên, Tết xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính với tính chất tả thực: "Có cô thợ nhuộm về ăn Tết/ Sương gió đường xa rám má hồng" (Không đề); "Em chưa lấy chồng/ Má hồng còn thắm/ Tết Tết xuân xuân/ Đời vui vẻ lắm" (Xuân).

NgàOk986.vip bảo mật SSLt trong thơ Nguyễn Bính luôn gắn với một cảm xúc, một ước ao được sum vầy đoàn tụ. Thế nên nếu Tết mà phải xa nhau, phải ly biệt thì đó chắc chắn sẽ trở thành nỗi buồn day dứt khôn nguôi trong lòng người: "Năm ngoái Tết rồi/ Năm nay lại Tết/ Ai đi biền biệt/ Hai Tết rồi đây/ Buồng hương lẳng lặng/ Then chẳng thiết cài/ Còn đợi chờ ai/ Biết bao Tết nữa" (Tết).

Hình ảnh người đi chợ Tết ghé xin chữ trong Tết xưa của người Việt.
Hình ảnh người đi chợ Tết ghé xin chữ trong Tết xưa của người Việt.

Những ngàOk986.vip bảo mật SSLt vui nhất trong thơ Nguyễn Bính là những ngàOk986.vip bảo mật SSLt vọng về trong hồi ức, lúc thiếu thời. Có những cái Tết gắn với hình ảnh người mẹ tần tảo, hiền từ: "Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/ Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ trồng cây nêu (...) Xong ba ngàOk986.vip bảo mật SSLt mẹ tôi lại/ Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con/ Rồi một đôi khi người giậm gạo/ Chuyện trò kể lại tuổi chân son" (Tết của mẹ tôi).

Có những cái Tết gắn với hình ảnh người bạn gái thuở hoa niên: "Trời đen như mực, tối ba mươi/ Diễm lén sang nhà để gặp tôi/ Hai chúng tôi ngồi trên đệm rạ/ Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi" (Thi vị).

Nhưng những cái Tết xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Bính là những cái Tết xa nhà, phải đón xuân nơi xứ người. Danh từ Tết vì thế thường có một loạt yếu tố đi sau để nhấn mạnh cái sự xa quê ấy như: "Tết ngoài thiên hạ", "Tết quê người", "Tết người ta": "Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió/ Xuân này em chị vẫn tha hương/ Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/ Son sắt say hoài rượu viễn phương (...) Đêm ba mươi Tết quê người cũng/ Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương" (Xuân vẫn tha hương), "Quán trọ xuân này hoa lại nở/ Lại ngồi xem Tết, Tết người ta" (Quán trọ).

Và mọi cái Tết ở xứ người ấy đều là những cái Tết vô duyên, những cái Tết không mang đầy đủ ý nghĩa thực sự. Nỗi khát khao sum họp trong những ngàOk986.vip bảo mật SSLt vì thế mà càng cháy bỏng, nhưng bởi không thể trở về nên con người đành chấp nhận mà ôm lấy nỗi buồn tủi nhiều khi đến bẽ bàng: "Chiều ba mươi hết năm rồi/ Nhà tôi riêng một mình tôi vắng nhà/ Tôi còn lận đận phương xa/ Để ăn cái Tết thật là vô duyên" (Xuân về nhớ cố hương); "Rượu chẳng say cho đèn cũng lụi/ Ngày mai xuân nở khắp giang san/ Ngày mai ăn Tết bằng chi nhỉ/Ăn Tết bằng hai cánh cửa quan" (Tết biên thùy).

Bài thơ xuất hiện nhiều từ Tết nhất và khắc khoải da diết nhất là thi phẩm "Xuân tha hương", gồm 100 câu được bắt chung một vần. Cái điệp khúc "Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng" trở đi trở lại đến 7 lần trong toàn bộ bài thơ. Rải rác trong bài còn có 6 từ Tết khác, nâng tổng tần số xuất hiện của Tết trong thi phẩm lên tới 13 lần. Cái cảm giác bơ vơ, lạc lõng, cô đơn, vô định dễ khiến người ta phải trào nước mắt: "Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết/ Một mình em vẫn cứ tay không/ Vườn nhà Tết đến hoa còn nở/ Chị gửi cho em một cánh hồng/ Tha hương chẳng gặp người tri kỷ/ Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng (...)/ Chị ơi Tết đến em không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng (...)/ Tết này ồ thế mà vui chán/ Những một mình em uống rượu hồng (...)/ Chị ơi Tết đến em mua rượu/ Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông...".

 Tết không chỉ như một ám ảnh mà còn trở thành định mệnh của thơ và đời Nguyễn Bính. Chẳng thế mà trong những câu cuối của bài "Nhạc xuân", thi sĩ dường như đã buông ra một "lời sấm" cho sự ra đi mãi mãi của mình: "Năm mới tháng giêng mùng một Tết/ Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân/ Huyền Trân ơi!/ Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi/ Giờ đây chín vạn bông trời nở/ Riêng có tình ta khép lại thôi".

Sau 27 năm kể từ khi công bố bài "Nhạc xuân" (1939), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn rời cõi tạm vào đúng ngày 29 tháng Chạp (năm đó không có ngày 30), ngay trước thềm mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966), để lại bao nuối tiếc xót xa trong lòng những người ở lại.

Qua ba thi sĩ của phong trào Thơ Mới: Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, chúng tôi muốn làm một cuộc hành hương, hoài niệm về Tết trong thơ xưa. Đó là những mùa xuân, những cái Tết mà nỗi u buồn sầu thương vẫn còn giăng mắc, bàng bạc trong hầu hết các thi phẩm bởi OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao chưa được độc lập tự do, vẫn còn nằm trong sự cai trị của thực dân.

Thế nhưng cái tình của con người với Tết, với quê hương, với gia đình luôn là một điều chân thành, gây niềm xúc động mạnh mẽ cho người đọc, không chỉ của thời bấy giờ mà còn tiếp tục chinh phục mỗi chúng ta hôm nay.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.