Góp ý về việc biên tập sách giáo khoa

Việc biên soạn một bộ sách giáo khoa có chất lượng đang là điều mà nhiều người quan tâm hiện nay. Nhân đây, chúng tôi có một số ý góp cho việc biên tập ở một bộ phận của sách giáo khoa phổ thông đã được tái bản nhiều lần mà chúng tôi quan tâm tới.
  • Có viển vông khi kỳ vọng vào sách giáo khoa?
  • Sách giáo khoa lớp 1 đắt gấp đôi do dày hơn, chất lượng tốt hơn
  • Cử tri bức xúc giá sách giáo khoa, có dấu hiệu "lợi ích nhóm"

Đó là những bài văn dịch phần văn học từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XXI, rải rác trong sách Ngữ văn từ lớp 7 đến lớp 11 như: “Sông núi nước Nam”, “Chiếu dời đô”, “Hịch tướng sỹ”, “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh”, “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Phú sông Bạch Đằng”, “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (trích văn bia khoa Nhâm Tuất); “Đại cáo Bình Ngô”, “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”, “Trần Thủ Độ” …

Ở đây chúng tôi chỉ nói tới điều cần chú ý trong biên tập phần dịch nghĩa và chú giải khi sử dụng bản dịch của các tác phẩm này. Các bản dịch được lựa chọn đưa vào trong sách, phần lớn đều của các dịch giả - những học giả có uy tín. Tuy nhiên với nhiều lý do và trở ngại khác nhau, khó có thể có được một bản dịch lần đầu mà không có chỗ nào sai sót. Vì vậy, những bản dịch trên, có những chỗ cần được bổ sung hoàn thiện cũng là điều bình thường.

Sau đây chúng tôi xin nêu ra một vài ví dụ. Các ví dụ này chỉ nêu ra ý chưa đúng trong dịch nghĩa và chú giải mà không phân tích dẫn luận được thật đầy đủ do khuôn khổ của một bài báo. Nếu cần xin được trao đổi cụ thể chi tiết kĩ hơn sau này.

- Trong bài "Chiếu dời đô", nguyên văn cụm từ chữ Hán: "Vi vạn thế đế vương chi thượng đô". Từ "thượng đô" được dịch là "Kinh đô bậc nhất" (một số bản dịch khác cũng dịch như vậy hoặc dịch là "Kinh đô bậc ưu"). Nhưng từ "thượng đô" không mang nghĩa đó, mà "thượng đô" ở đây theo nghĩa là đô thị đầu não, nơi đặt cung thất của triều đình, mang nghĩa là "thủ đô" theo cách nói ngày nay. "Thượng đô" được xem là đối lại với "bồi đô", "hạ đô" (cổ đại đối bồi đô, hạ đô nhi ngôn, xưng thủ đô vi thượng đô). Nghĩa của từ này cũng ghi rõ trong các từ điển lớn là: Kinh đô (thượng đô: kinh đô dã). Với nghĩa đó hiểu rằng Lý Thái Tổ nói: Thành Đại La (sau này là Thăng Long) là nơi trung tâm có thể đặt kinh đô được, mà không có ý phân biệt đẳng cấp cao thấp, ưu thứ.

Cụm từ "Rồng cuộn hổ ngồi" dịch từ "Long bàn hổ cứ". Trong phần chú thích của sách có ghi: "Được coi là thế đất đẹp, sẽ phát triển thịnh vượng". "Rồng cuộn hổ ngồi" theo quan niệm xưa được coi là nơi xung yếu, là nơi đóng đô của bậc đế vương, mà không mang biểu tượng như diễn giải trong chú thích trên.

Gia Cát Lượng khi khảo Kim Lăng đã từng nhận xét: Thế đất ở đây có "Chung Sơn long bàn, Thạch Đầu hổ cứ, thử đế vương chi trạch" (Chung Sơn hình rồng cuộn, Thạch Đầu dáng hổ ngồi đây chính là nơi ở của bậc đế vương). Lý Bạch cũng có câu "Long bàn hổ cứ đế vương châu" (Rồng cuộn hổ ngồi là chốn của bậc đế vương). Về sau trở thành điển tích của biểu tượng trên. Bài "Kim Lăng điếu cổ" có trong "Quốc văn trích diễm" của Dương Quảng Hàm cũng nói đến biểu tượng này. Vậy "rồng cuộn hổ ngồi" chỉ là biểu tượng cho nơi đất ở của bậc đế vương, không mang biểu tượng chung là nơi đất đẹp, phát triển thịnh vượng.

- Trong bài "Hịch tướng sỹ", lời dịch: "Tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai", từ câu "Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ". Từ "dâm thanh" có thể dịch thoát là "tiếng hát". Nhưng dịch là "tiếng hát hay" thì ngược nghĩa. Chúng tôi chưa tìm thấy trong từ điển nào chú giải "dâm thanh" là "tiếng hát hay". Trong đại từ điển giải thích là "thứ nhạc dâm tà" (dâm tà đích nhạc thanh). Ở một từ điển khác được xem là thứ nhạc "bậc quân tử không đáng nghe" (quân tử phất thính). Xưa kia coi nhã nhạc là "chính thanh", tục nhạc là "dâm thanh". Vậy nên bản dịch trong “Đại Việt sử ký toàn thư” xuất bản năm 1971 của dịch giả Cao Huy Giu, GS. Đào Duy Anh hiệu đính dịch là: "Hát nhảm không thể điếc tai giặc" là đúng nghĩa.

Trong phần chú  thích, từ "quân trưởng" giải thích là: "Chức quan trên ở trong quân đội", nhưng đó phải là chữ "quân" bộ "miên". Còn trong văn bản ở đây là chữ "quân' bộ "khẩu" mang nghĩa là: Vua và các quan đại thần (quốc quân dữ khanh đại phu) không phải chỉ riêng trong quân đội. Cụm từ này Ngô Tất Tố đã dịch là: "Vua chúa giống Thát".

- Trong bài "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh", theo chúng tôi bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến mà sách sử dụng là bản dịch hay, tuy nhiên đôi chỗ còn xa ý của nguyên bản và có chỗ còn bỏ sót, chẳng hạn dịch giả đã không dịch cụm từ "Tiêu Nghê Vân Lâm huyền nhai" (cheo veo giống như ở nơi ven núi đầm Vân Mộng nước Ngô) cũng có thể dịch giả lược đi. Nhưng dù lược đi, bỏ sót, hoăc tra cứu không kịp cũng không hay cho đoạn văn này.

- Trong bài "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" (trích đoạn văn bia khoa Nhâm Tuất), đoạn văn "... có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng". Từ "tô điểm" ở đây được dịch nghĩa của từ "phủ phất". Nhưng từ này còn có nghĩa là "Phụ giúp" (được dẫn luận trong "Khất xảo văn" của Liễu Tông Nguyên). Nghĩa này mới hợp với văn cảnh ở đây. Những kẻ sỹ được đào tạo công phu, được đãi ngộ như vậy, được quý chuộng không biết thế nào là cùng nhưng chỉ đem tài cán, nhiệt huyết ra "tô điểm" cho cảnh trị bình giông như tô điểm "hoa văn trên xiêm áo" (y thường hội tú chi văn) thì thật không xứng. Rõ ràng phải đem tài trí ra phụ giúp làm rạng rỡ cảnh trị bình mới hợp với ý ở đây.

- Với bài "Đại cáo Bình Ngô", đã được rất nhiều dịch giả dịch, tuy nhiên cũng còn một số chỗ rất cần được xem xét lại.

Câu chữ Hán "Khoảnh nhân Hồ chinh chi phiền hà" được dịch là "Vừa rồi nhân họ Hồ chính sự phiền hà". Từ "phiền hà" phiên nghĩa theo phiên âm như vậy dễ để người ta hiểu theo nghĩa là "làm rầy rà, rắc rối, gây khó dễ cho người khác" giống như trong Từ điển tiếng Việt giải thích. Từ "phiền hà" trong cổ văn đồng nghĩa với "hà chính", nghĩa là "chính sự hà khắc, tàn bạo" ("Hà chính mãnh ư hổ" - "Chính sự hà khắc hung ác hơn hổ" - Sách Lễ ký).

Trong cụm từ "...chinh dao trọng khốn" với lời dịch: "Nặng nề những nỗi phu phen" là thiếu ý của cặp từ này. "Chinh dao" phải được hiểu là: "Thuế khóa và phu dịch" (phú thuế dữ dao dịch) phản ảnh đủ hai mặt nỗi thống khổ của dân khi đó, chứ không chỉ riêng là phu dịch (phu phen).

Câu "Nhị thập bát nhật thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ" được dịch là "Ngày 28 thượng thư Lý Khánh cùng kế mà tự vẫn". Ở đây cần chú ý hai chữ "vẫn thủ", xin được nêu rõ: theo bản của “Đại Việt sử ký toàn thư” (bản Chính Hòa - 1697), "vẫn thủ" được chép là “        ; Theo bản "Hoàng Việt văn tuyển" của Bùi Huy Bích được chép là "       ". Từ "vẫn thủ" có tự dạng "        " phải được hiểu là "mất đầu" (    : vẫn: mất; rụng) vậy ngày 28 tướng giặc trên bị mất đầu (không phải là tự vẫn). Còn "vẫn thủ" có tự dạng "        " là không rõ nghĩa, nếu không muốn nói là không có nghĩa. Vì rằng riêng chữ "     " (vẫn) đã có nghĩa là tự vẫn, chữ "      " (thủ) đứng sau sẽ không có nghĩa nữa. Phải chăng vì đồng âm mà trong "Hoàng Việt văn tuyển" đã chép nhầm. Phần trên của “Đại Việt sử ký” toàn thư cũng chỉ nói thượng thư Lý Khánh chết mà không nói gì thêm. Trong sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" (có sau các sách trên) có nói tướng giặc trên tự vẫn nhưng không có sử liệu để chứng minh. Nên theo đúng bản Chính Hòa - 1697 thì câu trên phải hiểu là "Ngày 28 thượng thư Lý Khánh kế cùng bị mất đầu". Phải chăng tướng giặc đã bị quân ta chém đầu, chứ không phải tự vẫn như cách hiểu lâu nay.

Về lời dịch: "Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày", "Thành Đan Xá thây chất thành núi", đó cũng là lời dịch không chính xác; đã được một nhà nghiên cứu nói đến trong một tập san chuyên ngành, nên chúng tôi không diễn giải lại ở đây.

- Trong bài "Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn" lời dịch đoạn văn Trần Hưng Đạo nói với vua Trần Anh Tông: "Nếu nó tiến quân chậm như tằm ăn, không cần của dân, không cầu thắng chóng ..." đã dịch thiếu cụm từ "không cần của dân" (bất vụ dân tài).

- Trong bài "Thái sư Trần Thủ Độ" câu: "Thái Tông từng muốn cho anh của Thủ Độ là An Quốc làm tướng". Đúng ra phải là: "... làm tướng quốc". Vì quan chể triều Trần lúc đó chức tể tướng (quan đầu triều) có tả hữu tướng quốc, nếu cả hai anh em cùng giữ vị trí chủ chốt ấy thì khó điều hành chính sự. Còn nếu chỉ làm tướng như các tướng khác trong triều thì không phải là điều đáng nói.

Trên đây chúng tôi chỉ nêu lên một số chi tiết làm ví dụ gợi ý để các soạn giả xem xét biên tập lại, để có một bản sách hoàn chỉnh hơn. Chúng tôi cũng cho rằng không nên "trầm trọng hóa" những sai sót có thể xảy ra, nhưng rất cần biên tập kĩ lưỡng để bản sách được tốt hơn.

Ngày 28 tháng 11 năm 2020

Trần Quốc Tường

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.