Đỏ lửa giữ nghề bán hơi

Những năm 70 của thế kỷ trước, xã Thống Nhất (huyện Thường Tín, TP Hà Nội) nổi tiếng với nghề thổi thủy tinh, sản phẩm đặc trưng nhất là ống tiêm philatop. Tuy là thổi thủy tinh thủ công nhưng có lúc sản phẩm của làng nghề đã “ăn đứt” sản phẩm thủy tinh công nghiệp.

  • Làng nghề bánh tráng vào mùa Tết
  • Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống xứ Huế

Vang bóng một thời

Về xã Thống Nhất, tìm hiểu về nghề thổi thủy tinh, mấy người làng đều bảo chúng tôi phải tìm đến nhà ông Hồ Văn Gừng, ở thôn Giáp Long (trước đây gọi là Hợp Long). Bởi, ông Gừng là người đầu tiên và cũng là cuối cùng ở xã Thống Nhất còn  thổi thủy tinh theo phương pháp truyền thống.

Nhà ông Gừng nằm sát đê sông Hồng. Một ngôi nhà cấp bốn được xây từ lâu. Chúng tôi đến gặp đúng lúc ông Gừng đang thổi thủy tinh ở phía sau nhà. Thấy ông đang Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9, chúng tôi ngồi luôn bên cạnh và nói chuyện. Ông nói vui, làm nghề này gần 50 năm rồi mà không xây nổi cái nhà gác đấy mấy chú ạ.

Đỏ lửa giữ nghề bán hơi -0
Đưa máy công nghiệp vào sản xuất ống tiêm philatop ở xã Thống Nhất.

Ông Gừng năm nay đã 72 tuổi, làm nghề thổi thủy tinh từ những năm 70 của thế kỷ trước. Ông kể rằng, năm 1968 – 1969, Mỹ leo thang chiến tranh ở miền Nam, nhu cầu sử dụng ống tiêm philatop trong Ok986.vip bảo mật SSL tăng mạnh. Một số xí nghiệp thổi thủy tinh đẩy mạnh sản xuất, ông Gừng và một số người khác trong xã Thống Nhất xin vào Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9. Được một thời gian thì họ tự về nhà thổi thủy tinh theo phương pháp thủ công, dùng bễ lò rèn đạp gió, tận dụng bóng đèn huỳnh quang đã qua sử dụng làm nguyên liệu, thế là nghề thổi thủy tinh lan rộng ra khắp xã Thống Nhất.

Phải nói rằng, người dân Thống Nhất có cái tài và cái duyên với nghề thổi thủy tinh. Chẳng ai chỉ dạy, chỉ nhìn máy móc làm thôi nhưng họ có thể tự làm được ống tiêm philatop chất lượng ngang ngửa với máy móc công nghiệp thời bấy giờ. Ông Gừng tự hào kể: Xã Thống Nhất có 4 làng gồm Giáp Long, Hoàng Xá, Thượng Giáp và Bộ Đầu thì cả 4 làng đều có nghề thổi thủy tinh. Nhiều nơi họ về Thống Nhất đặt hàng với số lượng lớn và họ rất ưa thích sản phẩm thủy tinh Thống Nhất, từ ống tiêm philatop, ruột phích, ly đến bóng đèn dầu... sản phẩm tinh khiết, đều đẹp và tốc độ làm của người thợ không thua kém máy móc là bao nhiêu.

Sang những năm 80 - 90, nghề thổi thủy tinh còn được các hộ liên kết lại thành Hợp tác xã thổi thủy tinh Hợp Long, nhận đơn hàng khắp miền Bắc, thương hiệu thủy tinh Thống Nhất đôi khi còn bị nhầm sang thương hiệu xe đạp Thống Nhất, bởi quá nổi. Đặc biệt, từ năm 1993, khi điện lưới được phủ đến mọi miền quê, người thợ thổi thủy tinh có sự hỗ trợ của máy móc không còn phải đạp bễ gió nên nghề càng thêm phát triển. Thời điểm đó, có tới quá nửa số hộ thuộc xã Thống Nhất làm nghề đem lại nguồn lợi OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao chủ yếu cho người dân.

Nghề của sự sáng tạo

Thổi thủy tinh ban đầu là một nghề công nghiệp nhưng khi về xã Thống Nhất, do sự hạn chế của làm thủ công mà người thợ đã phải sáng tạo rất nhiều từ kỹ thuật đến mẫu mã.

Ông Hồ Văn Gừng kể lại rằng, nếu như xí nghiệp có nguồn cung nguyên liệu ổn định thì làng nghề khi đó phải tự túc. Một bộ phận người dân sẽ đi nhặt hoặc thu mua ống đèn huỳnh quang đã qua sử dụng, một số vỏ thủy tinh trong, đem về sơ chế để làm nguyên liệu.

Bà Hồ Thị Phàn, vợ ông Gừng tuy không ngồi trực tiếp thổi thủy tinh nhưng lại là người tạo ra nguồn nguyên liệu cho ông Gừng thổi. Hằng ngày, bà Phàn vẫn đi thu lượm bóng đèn huỳnh quang về nhà, sau đó dùng kìm tháo hai đầu vít và ngâm bóng đèn trong nước khoảng hai tiếng. Bà Phàn nhẹ nhàng lấy gậy quấn vải ở đầu rồi thuôn vào bóng đèn để tẩy bột huỳnh quang, mỗi ngày bà Phàn thường tẩy trắng khoảng 10 bóng đèn huỳnh quang để ông Gừng thổi.

Đỏ lửa giữ nghề bán hơi -0
Ông Hồ Văn Gừng thổi thủy tinh bằng đèn khò đốt dầu gần 50 năm nay.

Nói về chiếc bễ lò rèn, ông Gừng cười vui bảo “có khi cái bễ này hơn cả tuổi chú”. Bởi, ông Gừng đã sử dụng chiếc bễ này gần 40 năm và hiện là chiếc bễ lò rèn cuối cùng trong xã Thống Nhất. Ngày nay, do có mô tơ nên người thợ đỡ vất vả, còn trước kia bễ phải đạp bằng chân để lấy gió duy trì ngọn lửa, dừng đạp chân là lửa khò có thể tắt ngay lập tức. Theo ông Gừng, nhiệt độ trung bình của đèn khò khoảng 800 độ C, còn để nung chảy một số loại thủy tinh nhập ngoại thì phải cần nhiệt độ trên 1000 độ C.

Còn chiếc đèn khò là sự sáng tạo riêng biệt của người thợ Thống Nhất. Chiếc đèn khò của ông Gừng được ông thiết kế bên trong là 9 đầu lửa khò được cuốn bằng sợi bấc đèn và sử dụng dầu hỏa để đốt. Sau thời của đèn khò đốt dầu, cũng chính người thợ Thống Nhất đã sáng tạo ra đèn khò đốt gas, rồi đến bây giờ một số máy móc công nghiệp cũng do người thợ Thống Nhất thiết kế, đặt hàng các đơn vị sản xuất.

Nghề thổi thủy tinh được người thợ Thống Nhất gọi vui là nghề bán hơi bên ngọn lửa. Bởi, nguyên lý cơ bản của nghề này là nung chảy thủy tinh và thổi, dùng tay xoáy tạo hình theo ý muốn của người thợ. Người thợ muốn thổi được trước tiên phải biết phân biệt một số loại thủy tinh, cảm nhận được ngọn lửa khoảng bao nhiêu độ C và hình dung trong đầu được hình khối, vậy nên để có thể thành thạo nghề phải mất ít nhất khoảng 2 năm học việc.

Ông Gừng bảo rằng, tuy năm nay đã hơn bảy mươi tuổi, làm nghề gần 50 năm mà ông vẫn thổi được thủy tinh chứng tỏ rằng hai lá phổi của ông vẫn đang “chạy” rất tốt. Ông Gừng còn “khoe” mình có nhiều điểm vượt trội hơn thợ thanh niên, vì nhiều thợ chỉ ngồi được khoảng hai tiếng là phải nghỉ do nhiệt từ đèn khò tỏa ra mạnh khiến mắt bị mỏi, thậm chí là đau, da dẻ khô hanh. Còn với ông Gừng thì đến nay đôi mắt vẫn tinh anh, không cần phải đeo kính, da dẻ hồng hào và có thể ngồi tới 4 tiếng mới cần nghỉ giải lao. Ông Gừng còn tự đi xe máy giao hàng cho một số đại lý nên có thể nói vui rằng, nghề thổi thủy tinh chẳng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông Gừng.

Tôi được ông Gừng giới thiệu đến xưởng ông Lê Văn Tiến (thôn Hoàng Xá), một người “thợ điêu khắc” trên thủy tinh trẻ hơn ông Gừng chục tuổi. Ông Tiến làm nghề thổi thủy tinh cũng đã gần 30 năm và là người yêu, sống được bằng nghề thổi thủy tinh truyền thống tuy chẳng giàu có gì. Ông Tiến đến với nghề khi mới 16 tuổi, ban đầu do sự thích thú khi quan sát người lớn tạo hình bên đèn khò, từ đó ý tưởng tạo hình các con vật nhen nhóm trong đầu chàng trai trẻ Lê Văn Tiến. Chính tình yêu với nghề đã giúp ông giữ được nghề cho đến ngày nay, cho dù thu nhập không bằng các nghề truyền thống khác hay đi buôn bán. Tuy vậy, ông Tiến lại có một số học trò rất yêu nghề như anh Đỗ Tuấn Anh quyết tâm nối nghiệp ông Tiến.

Đau đáu giữ nghề như một nét văn hóa

Vang bóng một thời là thế, nhưng từ khoảng hai chục năm trở lại đây, nghề thổi thủy tinh ở Thống Nhất đã bị “lao đao” bởi cơn bão thị trường. Máy móc hiện đại ra đời, các sản phẩm tinh xảo được sản xuất trong phút mốt, sản phẩm làng nghề tuy vẫn đáp ứng được chất lượng nhưng tốc độ sản xuất không bằng máy móc, giá thành cao nên nhiều hộ đã bỏ nghề. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh của đồ nhựa, đồ inox làm thị trường tiêu thụ bị thu hẹp.

Từ chỗ quá nửa số hộ làm nghề, có đến hàng trăm thợ lành nghề, đến nay toàn xã Thống Nhất chỉ còn một vài xưởng thủ công nghiệp, vài hộ làm thủ công như ông Gừng, ông Tiến, ông Trãi, ông Thọ.... tay nghề cao như họ cũng chỉ kiếm được tối đa 200 nghìn đồng một ngày. Nhưng không vì thế mà họ bỏ nghề, họ vẫn còn lý do để “bám nghề”, đó chính là giữ nghề như giữ lại một nét văn hóa, giữ lại một thời hưng thịnh của thủy tinh Thống Nhất.

Những người “nghệ nhân không bằng” ở Thống Nhất cứ cần mẫn, đau đáu là thế, họ chỉ mong một ngày nghề thổi thủy tinh được khôi phục phần nào, hoặc chí ít vẫn duy trì được và không bị mai một. Biết rằng, cuộc sống đôi khi phải đối mặt với cơm áo gạo tiền nhưng họ vẫn giữ mãi niềm hy vọng “còn hơi, còn giữ nghề truyền thống” như một nét đẹp văn hóa.

Nguyễn Văn Công

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.