Dặm dài lữ khách tha hương!

Ở đời, hầu như ai cũng làm “lữ khách” trong một hoàn cảnh, môi trường với một lý do riêng nào đó. Bước vào văn chương, hình tượng lữ khách được quan tâm cả trong sáng tác và tiếp nhận. Cô Kiều cũng có tới 15 năm trong đời làm lữ khách đấy thôi. Một tác phẩm Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 hay luôn mang ý nghĩa phổ quát của kiếp người. “Truyện Kiều” là như vậy, ai đọc cũng thấy mình trong đó…

  • Triết lý về “một con người”!
  • An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy

Ngày nay khách Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá cũng được gọi “lữ khách”, đúng với nghĩa đen là người khách đường xa. Nhưng đấy là định nghĩa theo hành động bên ngoài, chưa quan tâm tới mục đích tự thân bên trong. Có người tự rời bỏ quê nhà đi lang thang bất định, có kẻ đi kiếm sống nơi xa, có người cô đơn ngay trong nhà mình… để rồi trăn trở trong cuộc hành trình “tìm kiếm bản thể”. Lại có người tự nguyện làm lữ khách đi tìm kiếm ý nghĩa cứu rỗi cuộc đời…

Cuộc hành trình kể chuyện của Homer để viết “Iliad” và “Odyssey”; chuyến đi Tây Trúc thỉnh kinh của bốn thầy trò Đường Tăng; của Dante trong “Thần khúc” đi xuyên qua ba cõi âm; của thầy trò hiệp sĩ Đôn Kihôtê và Xantrô… cũng là hành trình của những lữ khách. Nhà Phật quan niệm con người là lữ khách ở tạm bến trọ trần gian, các tu sĩ đi khất thực là cách thực hành chánh niệm. Mỗi bước đi một bước thiền hành tìm đến sự tỉnh thức và an lạc nội tâm.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cụ thể hóa lời dạy của Phật tổ: Là những lữ khách trên hành tinh này, chúng ta có mặt nhiều lắm là chín mươi hay một trăm năm. Phải cố gắng làm những điều tốt lành và ích lợi để mang lại hạnh phúc cho người khác. Đó là mục đích, ý nghĩa cuộc đời.

image003.jpg -1
“Tha hương” – một chủ đề trong thơ Nguyễn Bính.

Trong văn chương cổ trung đại thế giới xuất hiện nhiều hình tượng “kiếm khách”, “hiệp khách”, “khất sĩ”… như là một cách phản ứng lại với trật tự cuộc sống. Cũng có thể gọi chung họ là “lữ khách”. Triết học cổ Trung Hoa thường nhắc đến “Trúc lâm thất hiền” (Bảy vị hiền nhân trong rừng trúc): Nguyễn Tịch, Kê Khang, Lưu Linh, Sơn Đào, Hướng Tú, Vương Nhung, Nguyễn Hàm sống thời cuối Ngụy đầu Tấn (thế kỉ III) chán ghét chế độ đương thời bèn rủ nhau vào ẩn trong rừng trúc đánh đàn, uống rượu, làm thơ, bàn cái đẹp Lão Trang...

Trước đó, nghe tin Kê Khang là người “lập dị”, Chung Hội tìm đến, nhìn một lát rồi bỏ đi. Kê Khang hỏi: “Đã nghe gì mà tới? Đã thấy gì mà đi? Chung Hội đáp: - Tới vì nghe cái đã nghe. Đi vì thấy cái đã thấy”. Câu này đã toát ra quan niệm “triết học về lữ khách”: “Thấy” (biết) thì tồn tại nên đi để “thấy”. Đời người dài ngắn không quan trọng. Càng “thấy” (biết) nhiều càng sống nhiều. Muốn vậy phải đi nhiều. Một hôm, Kê Khang ngồi gảy đàn, chợt có lữ khách tự xưng người cổ xưa đến truyền cho Kê Khang khúc nhạc “Quảng lăng tán” (một trong mười đại danh khúc Trung Hoa), dặn không truyền cho ai khác.

Thì ra càng là “lữ khách” cổ xưa càng giữ nhiều bí quyết sống, nhất là bí quyết Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Dòng sông triết học này thao thiết chảy đến đời Đường, Tống, phù hợp thung thổ chất đất văn hóa, khí hậu thời đại mà tụ lại rồi kết thành các thiên tài văn chương. Cũng từ đây hình tượng lữ khách tha hương mới rõ hơn. Vì xa quê nên trong tâm trí, quê hương càng sâu đậm hơn. Cần ca ngợi Chế Lan Viên là một tài năng triết học khái quát điều này bằng thơ: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”.

Có thể coi Trần Tử Ngang (661- 702) là người đưa ra “tuyên ngôn” bằng thơ về lữ khách cô đơn trong kiệt tác “Đăng U Châu đài ca”: “Tiền bất kiến cổ nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc thương nhiên nhi thế hạ” (Trước không thấy người xưa/ Sau không thấy kẻ sắp đến/ Nghĩ trời đất mênh mông không cùng/ Một mình bùi ngùi nhỏ nước mắt). Đây không phải là cuộc hành trình vật lý, có thật mà là hành trình tâm lý, tưởng tượng. Một mình lữ khách tương phản triệt để với không gian không cùng. Nỗi cô đơn càng tăng bội phần. Nước mắt nhỏ ra ngoài, nỗi cô sầu lặn vào trong.

Tương truyền, thời trẻ Lý Bạch mặc áo trắng, đeo bầu rượu lớn, chống kiếm lên đường. Tham quan hầu hết cảnh đẹp hồ Động Đình, sông Tương, Dương Châu, Giang Hạ… Năm 30 tuổi tiếng tăm vang đến triều đình. Được mời làm quan, ông không nhận. Năm 735 rong chơi qua nước Tề, Lỗ, được những ẩn sĩ nổi tiếng đương thời rủ lên núi Tổ Lai thưởng ngoạn … Không là “lữ khách”, chắc chắn không có nhà thơ Lý Bạch, càng không có thi phẩm “Tĩnh dạ tứ” bất tử: “Sàng tiền minh nguyệt quang/ Nghi thị địa thượng sương/ Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê Ok9 cool link đăng nhập cố hương!” (Đầu giường ánh trăng sáng/ Ngỡ mặt đất phủ sương/ Ngẩng đầu ngắm trăng sáng/ Cúi đầu nhớ quê hương). Bài này hay đến mức phổ quát cho tất cả những ai xa quê, nhớ về quê. Không còn là thơ thông thường, đó là tiếng lòng con người.

Cuộc đời lữ khách Đỗ Phủ vất vả đau khổ đúng với nghĩa đen. Sự kiện An Lộc Sơn năm 755 khiến Đỗ Phủ trải qua một cuộc sống trôi nổi, không ở đâu lâu, còn thêm đói ăn và sự bạc đãi của triều đình. Ông trở thành một nhà thơ của dân đen đồng cảm với những đau khổ, bất hạnh. Nỗi lòng quê cũ (“cố viên tâm”) tuôn thành lệ hòa vào con chữ tượng hình thành nỗi đau: “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô chu nhất hệ cố viên tâm” (Khóm cúc nở hoa đã hai lần làm tuôn rơi nước mắt ngày trước/ Con thuyền lẻ loi thắt chặt tấm lòng nhớ về vườn cũ).

image001.jpg -0
Lý Bạch viễn du.

Đề tài lữ khách tha hương trong thơ Đường, Tống gắn liền với mã văn hóa “nghịch lữ” (được hiểu là quán trọ ven đường) đáng chú ý. Lý Bạch từng viết: “Phù, thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ; quang âm giả, bách đại chi quá khách” (Trời đất là quán trọ của muôn vật; thời gian là khách ghé của trăm đời). Chảy từ miền thượng nguồn Phật, Lão, theo thời gian được phù sa văn hóa bồi đắp, trở thành một mã “liên văn hóa” giàu có ý nghĩa nuôi dưỡng một quan niệm: “Nhân sinh như nghịch lữ” (cuộc đời như quán trọ) - một câu thơ nổi tiếng của Tô Thức.

Có thể lý giải cơ sở Ok9 cab trò chơi casino phổ biến của hình tượng lữ khách này, là khát vọng kiếm tìm hạnh phúc hay tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Hình như ở đâu, đời nào cũng thế, con người ta tồn tại trong ý nghĩa. Hết ý nghĩa thì cuộc đời dừng lại. Cứu độ chúng sinh chẳng phải là một ý nghĩa phổ quát cao cả của nhà Phật đó sao. Có lẽ dòng tư tưởng này chảy vào đời Đường, Tống nuôi dưỡng nhiều nhà thơ viết về lữ khách hoặc là lữ khách nhà thơ. Có người đi làm “ẩn sĩ” thì cũng là một cách để làm “lữ khách” trong thế giới tâm trạng mình. Đến lượt đời Đường, Tống lại thành nguồn mạch nuôi dưỡng các thi nhân hậu thế.

Thôi Hiệu nổi tiếng với “Hoàng Hạc lâu” mang âm hưởng “sầu nhân thế”: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Trôi theo dòng tâm trạng buồn nhớ quê, trên con thuyền thi ca Thôi Hiệu, khi cập bến ở thơ Huy Cận đầu thế kỷ XX, hình tượng lữ khách không mấy thay đổi, cả trang phục và tư duy: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Vẫn thấy trong thơ Nguyễn Bính có bóng dáng lữ khách và không gian biệt xứ trong thơ Đỗ Phủ: “Sương phủ lưng đồi rặng núi xa/ Thương ôi! Lữ khách nhớ quê nhà/ Mấy thu mưa gió ngoài thiên hạ/ Vườn cũ còn chăng cúc nở hoa?” (Bắt gặp mùa thu).

Đến “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, vẫn có bóng dáng tráng sĩ Kinh Kha rắn rỏi, kiên quyết trong văn chương Trung Hoa, nhưng nỗi buồn đã có chút hiện đại: “Ta biết người buồn chiều hôm trước…/ Ta biết người buồn sáng hôm nay”. “Biết” được, tức (ta) phải thấu tỏ nguồn cơn ra đi. Chữ “biết” này cho thấy “ra đi” là một người khác (người ấy). Khối “sầu” đặc rắn trong thơ cổ, đến đây “mềm” ra chút ít, nhờ san sẻ cho người thứ hai.

“Chiều” của Hồ Dzếnh, rất lạ: “Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây/ Ngỡ lòng mình là rừng/ Ngỡ hồn mình là mây/ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây...”. “Tôi” chỉ khoác áo lữ khách ngày xưa đi trong mênh mang biển sắc màu thời gian. Đi trong chiều nên càng cô đơn, đến mức nhập thân vào vũ trụ (ngỡ là mây, là rừng). Có một bóng dáng Trang Chu không biết mình hóa bướm hay bướm hóa mình trong “Tề vật luận” của Trang Tử.

Ý thơ đẩy hồn thơ về miền thượng cổ. Không biết mình hóa mây rừng hay mây rừng hóa mình. Nhưng chỉ một làn khói thuốc mỏng mảnh làm thức tỉnh cả lòng người và vũ trụ. Cái mỏng mảnh nhiều khi có sức mạnh lớn. Mỏng mảnh nhưng đưa mùi thơm của thuốc bay xa - sản phẩm thời hiện đại. Là cầu nối của quá vãng xa xưa và hiện tại trước mặt, “Chiều” là một cảm thức thời gian, hơn thế, là một triết học về thời gian với các chiều kích đối lập trong các phạm trù tồn tại, hữu hạn của kiếp người.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.