Cuốn sách có nhiều chi tiết sai sự thật về các nhân vật lịch sử

Nhân đọc "Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 - 2010)", NXB Lý luận Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá, 2014.
  • Sách lịch sử: Làm công phu nhưng chưa hút độc giả
  • Sách ‘Lịch sử võ học Việt Nam’ được chuyển ngữ sang tiếng Pháp
  • Sách lịch sử gian nan tìm... người đọc

Nhiều chi tiết sai sự thật về nhân vật lịch sử

Trang 11 viết: "Từ năm 1883, sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, vùng Mê Linh chính là huyện Yên Lãng, phủ Tam Đới, tỉnh Sơn Tây". Năm 1883 - năm cuối cùng đời vua Tự Đức, vào thời "tứ nguyệt tam vương" (bốn tháng thay ba vua: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc) đã cách xa đời vua Minh Mạng đến gần nửa thế kỷ.

Trang 16 dẫn một loạt các làng cổ có tên nôm gắn với chữ Kẻ như Kẻ Lai, Kẻ Lôi (xã Tam Đồng), Kẻ Sặt (thôn Phú Mỹ, xã Tự Lập), Kẻ Đợ (xã Thạch Đà),… và cả Kẻ Dẫy, Kẻ Cùa. Tôi được biết trong dân gian có câu "Ruộng Kẻ Cùa, chùa Kẻ Dẫy". Các tác giả sách không chú dẫn mà ở đây là tiện tay ghi luôn từ địa phương khác vào. Cụ thể, Kẻ Cùa, Kẻ Dẫy, Kẻ Khiêu là tên nôm các thôn làng của xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, chứ không còn là địa danh hành chính thuộc huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ở thời điểm viết sách nữa.

Song điều quan trọng nhất là phần 2 mang tên "Truyền thống hiếu học" có quá nhiều sai sót.

Sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 - 2010)” có nhiều sai sót.
Sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 - 2010)” có nhiều sai sót.

Đó là đưa 3 nhân vật của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc vào làm danh nhân của huyện Mê Linh. Mà các nhân vật này tiểu sử, hành trạng đều thiếu sử liệu thuyết phục: Ngô Miễn, Đỗ Nhân Tăng và Trần Công Tước. Ở đây, nói nhẹ là gán ghép một cách khiên cưỡng, thực tế là bịa đặt lịch sử.

Dù rằng trước đây thị xã Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và huyện Mê Linh (thành phố Hà Nội) vốn là một huyện nhưng đã chia tách về mặt địa lý 10 năm, làm sao vẫn cố gán ghép như vậy? Nếu biện luận vì từng là một huyện chung thì còn phải lấy thêm các danh nhân khác ở thị xã Phúc Yên, Yên Lạc, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc cũng như huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từng cùng một huyện với Mê Linh. Hoặc nếu những người soạn sách cho rằng đây là nêu danh những nhân vật thuộc truyền thống, lịch sử của đơn vị hành chính Mê Linh xưa, có ảnh hưởng chung, thì phải chú thích cụ thể là nhân vật ấy nay thuộc tỉnh, huyện nào.

Cụ thể, trang 20 viết về danh nhân Ngô Miễn như sau: "Ngô Miễn sinh năm 1371 niên hiệu Thiệu Khánh thứ 2, đời vua Trần Nhân Tông, quê xã Phúc Thắng (nay thuộc thị xã Phúc Yên). Ngô Miễn đỗ Tiến sĩ năm 22 tuổi (1393) nhưng không ra làm quan mà về quê dạy học".

Ở đây các tác giả viết sai. Năm 1371 vua Trần Nhân Tông đã băng hà được gần 70 năm. Niên hiệu Thiệu Khánh là đời vua Trần Duệ Tông.

Một chi tiết sai khác là có việc Ngô Miễn đỗ Tiến sĩ năm 1393 không? Các tác giả dẫn tài liệu là "Lịch sử Đảng bộ xã Phúc Thắng, xuất bản năm 1990, trang 22". Đây không phải là tư liệu lịch sử đáng tin cậy. Bởi vì, xét tất cả các sử liệu về khoa bảng đều không có tên Ngô Miễn. Cụ thể, trong sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919" do PGS Ngô Đức Thọ (chủ biên), NXB Văn học (2006) chép về khoa thi năm Quý Dậu (1393) niên hiệu Quang Thái thứ 6 đời vua Trần Thuận Tông chỉ có 4 người đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ), mà không hề có tên Ngô Miễn.

Ngoài ra, trong sách "Danh nhân Vĩnh Phúc", tập 1, do Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Phúc ấn hành năm 1999 của tác giả Lê Kim Thuyên ghi chép những người đỗ từ Phó bảng trở lên, cũng không có tên Ngô Miễn trong danh sách.

Trang 21 viết về Tiến sĩ Đỗ Nhuận có nhiều chi tiết sai và chi tiết bịa đặt. Cụ thể sách "Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh" viết: "Theo Lịch triều hiến chương loại chí, ông sinh năm 1466. Ông đỗ đầu Tiến sĩ năm 1466, khi mới 21 tuổi". Ông đã sinh năm 1466 thì khi vừa sinh ra ông đã đỗ Tiến sĩ? Còn nếu đỗ Tiến sĩ năm 21 tuổi thì năm sinh của Đỗ Nhuận phải là 1446.

Các tác giả viết Đỗ Nhuận "đỗ đầu Tiến sĩ" là bịa đặt. Theo sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919" đã nêu trên, cho biết: Khoa thi 1466, Đỗ Nhuận đứng thứ 4 trong hàng Tiến sĩ, người đứng đầu là Nguyễn Quang Lộc.

Tiếp đó, trang 28 viết: "Hưởng ứng Chiếu Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi (1885), trên địa bàn Mê Linh có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích, Đốc Kết ở Phúc Yên, với hơn 200 nghĩa quân". Chi tiết này do các tác giả viết sách mới sáng tạo ra. Bởi vì, Nguyễn Quang Bích hay còn tên gọi khác là Ngô Quang Bích là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa tại Phú Thọ.

Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công bình luận: "Cách làm cẩu thả này dễ dẫn đến "dĩ hư truyền hư", vì không phải ai sử dụng tài liệu này cũng có điều kiện đối chiếu, kiểm tra lại xem độ chính xác đến đâu. Trong khi bản thân cái tên "Lịch sử đảng bộ..." đã có tỉnh thuyết phục độc giả tin tưởng tuyệt đối rồi".

Thái giám có tiêu biểu cho truyền thống hiếu học?

Ở trang 22 khi viết về truyền thống hiếu học của huyện Mê Linh, nhóm tác giả biên soạn sách "Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh" đã dẫn 2 vị quận công là Trần Công Tước sinh năm 1650, mất khoảng từ năm 1695 đến 1702 và Đỗ Nhân Tăng (1664 - 1729). Trần Công Tước tương truyền được nhân dân gọi là Thận Quận công và Đỗ Nhân Tăng làm quan hai triều vua Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông.

Cả hai vị đó đều là Thái giám. Tất nhiên không hẳn cứ là Thái giám thì không thể nêu gương về tinh thần hiếu học. Điều quan trọng là nhân vật ấy có đúng là hiếu học hay không. Qua tìm hiểu của chúng tôi thì điều này không có sử liệu chép lại. Hơn nữa, đây là hai nhân vật người phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc chứ không phải người huyện Mê Linh (Hà Nội).

Nếu kể đến truyền thống hiếu học phải là các nhà khoa bảng. Huyện Mê Linh không thiếu. Đó là Trần Quý Nghị, người xã Thanh Lâm, thi đỗ Tiến sĩ năm 25 tuổi, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) đời vua Lê Thánh Tông, làm quan tới Thượng thư (tương đương Bộ trưởng ngày nay).

Đó là Bùi Phỉ,  đời vua Lê Thánh Tông, làm quan tới Tế tửu Quốc tử giám (tương đương giám đốc Đại học Quốc gia hiện nay). Đó là Nguyễn Châu Mạo, người xã Văn Khê, đỗ Tiến sĩ năm 25 tuổi, niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (1514) đời vua Lê Tương Dực, làm quan đến Phó đô Ngự sử (tương đương Phó Chánh thanh tra OK9giaitri nền tảng giải trí online hiện nay).

Thương nhau như thế bằng mười phụ nhau

Theo nhà báo Lê Minh Quốc, viết sử về địa phương là điều rất đáng hoan nghênh. Qua đó, không chỉ Ok986 tải ứng dụng lòng yêu nước, hiếu học mà còn thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, khơi dậy niềm tự hào, nối chí tiền nhân dành cho các thế hệ đương thời. Tuy nhiên, sự biên soạn cần chính xác. Vấn đề này lâu nay đã xảy ra bất cập mà nhiều người đã nhìn ra, đã phàn nàn, chỉ trích.

"Thấy người sang bắt quàng làm họ" ở đây cần tránh, không nhất thiết phải như thế. Hơn nữa, đã là sử thì cần phải chính xác nhất trong chừng mực có thể. Nếu cách thực hiện cẩu thả, à uôm cứ như tập sách này, khiến chúng ta lại nhớ đến một câu Kiều: "Thương nhau như thế bằng mười phụ nhau".

Tóm lại, như đã nói, đã là sách sử thì tiêu chí trước nhất vẫn là sự chính xác. Với những sai sót mà tác giả đã nêu ra, cách tốt nhất là NXB Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá Lý luận nên thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thật và cách giải quyết tốt hơn cả vẫn là dũng cảm thu hồi sách, chỉnh sửa chỉn chu rồi tái bản. Âu cũng là một nét đẹp trong xuất bản mà chúng ta cần hướng tới, bởi cuối cùng một tập sách ra đời cũng không ngoài mục đích vì bạn đọc và vì giá trị lưu trữ lâu dài cho cả đời sau nữa.

Hậu quả lâu dài

"Những tài liệu như "Lịch sử đảng bộ..." các địa phương chính là nguồn tư liệu chính thống, mà sau này bất cứ người địa phương, hay ở nơi khác muốn tìm hiểu về vùng đất ấy đều phải tra cứu, lấy đó làm tài liệu tham khảo, dẫn chứng. Bởi vậy, sai sót, dù lớn dù nhỏ đều để lại hậu quả lâu dài...." (Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công).

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.