Con rùa một tiểu vụ trụ?

Với hình tượng con rùa huyền thoại gắn liền sự tích trả gươm Đức vua Lê Thái Tổ, dân gian gửi vào đó khát vọng hòa bình, thịnh vượng mãi mãi bền lâu của người dân Việt!
  • Hồ Con Rùa và vận số của “thầy bói quốc gia”
  • Phỏng vấn một con rùa
  • Những con rùa đá trong văn miếu

Nhưng không chỉ ở ta mới có biểu tượng con rùa giàu ý nghĩa, mà có ở nhiều nền văn hóa. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc rùa là biểu tượng cho vũ trụ. Ở Ấn Độ rùa biểu tượng cho sự sự hóa thân của các vị thần nổi tiếng như Bồ tát hoặc thần Vishnu. Ở một số nước châu Phi, rùa biểu tượng cho cột chống trời chắc chắn nhất, nhờ thế con người mới yên ổn, hạnh phúc mà làm ăn trên mặt đất... 

Nguyên nhân thì có thể là các nền văn hóa này có chung quan niệm trời tròn đất vuông. Trong sự liên tưởng thô sơ nguyên thủy thì không con vật nào gần gũi với mô hình vũ trụ này hơn con rùa, có chiếc mai hình vòm trên lưng, biểu tượng cho  trời, mặt phẳng dưới bụng biểu tượng cho đất. Truyền thuyết Ấn Độ còn cho rằng rùa cõng cả trái đất, ít ra cũng làm giá đỡ các ngai thần hoặc làm điểm tựa giữ cho ngọn núi Mandara (núi thiêng) thêm vững chãi...

Tượng rùa phong thủy.
Tượng rùa phong thủy.

Huyền thoại Trung Hoa kể bà Nữ Oa thấy con rùa giống với mô hình trời đất, bà cắt bốn chân rùa để tạo bốn cực của thế giới. Các mảnh vỡ của huyền thoại Trung Hoa văng ra khắp nơi, một mảnh rơi vào quan niệm của các vua chúa hậu thế. Từ đó, trong các lăng tẩm đền đài các vị quân vương thường theo mô hình các cột chính thường được đặt trên lưng rùa với ý nghĩa ngôi đền/ lâu đài/ nhà ấy mang tầm vóc vũ trụ. Cái câu “Thương thay thân phận con rùa/ Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia” của ta phải chăng là một ánh xạ rớt từ huyền thoại xứ Trung Hoa?

Nhưng rõ ràng, trong quan niệm cổ xưa của phương Đông thì rùa một trong “tứ linh”: long (rồng) - ly (kỳ lân) - quy (rùa) - phượng (chim phượng). Rất có thể rùa là con vật duy nhất trong tứ linh có thật còn ba linh vật kia chỉ là hư ảo, hư cấu. Vì rùa là con vật tự thân nó tích hợp được nhiều đặc điểm “thần thánh”, ngoài mô hình “trời tròn đất vuông”, rùa sống rất thọ, có khi tới vài ba trăm năm, có sức chịu đựng tốt với nhiều loại hình khí hậu, lại lưỡng cư, cả trên cạn, dưới nước... Thế là chả cần mất công hư cấu thêm (không như rồng chẳng hạn là sản phẩm của tưởng tượng), con người suy tôn rùa, thiêng hóa nó và đưa nó lên thành một biểu tượng, theo thời gian mặc cho nó rất nhiều lớp áo văn hóa để đời sau tha hồ mà lật mở từng lớp để tìm ra những mã ý nghĩa.

Truyện cổ Việt Nam có ngụ ngôn “Rùa và thỏ” kể về cuộc chạy thi của hai con vật nhanh nhất và chậm nhất. Cuối cùng rùa thắng nhờ mưu mẹo, tinh thần đoàn kết, chăm chỉ, cố gắng, biết điểm yếu của mình mà khắc phục. Ngược lại thỏ lười nhác lại chủ quan cũng chẳng để tâm suy nghĩ, mải “làm thơ” nên thua đau tức tưởi... Bài học này mang tính phổ quát cao đến mức chẳng dành cho riêng ai nên hầu như, là người Việt thì ai cũng biết.

Truyền thuyết “Thần Kim quy” (rùa vàng) giúp An Dương Vương xây Loa thành và cho thứ vũ khí cực kỳ lợi hại là nỏ thần đuổi giặc cùng truyện Lê Lợi được trao kiếm thần đuổi giặc Minh lại càng nhiều người biết và dành cho chúng nhiều suy ngẫm sâu xa. Thần Kim Quy được ca ngợi như vị thánh có công.

Nhưng thần là biểu tượng cho ai, thế lực nào thì vẫn cần tìm hiểu? Cho chính nghĩa, cho ý chí độc lập, tự do, cho nhân dân, cho sự tượng hình của hồn thiêng sông núi... Đều có lý. 

Rùa vàng đòi gươm Lê Lợi thì có phần phức tạp hơn. Là biểu tượng cho ý chí hòa bình, không muốn chiến tranh, hết giặc thì chẳng cần vũ khí để tập trung vào việc hưng dân thịnh quốc. Lại có ý kiến cho rằng vì sau chiến thắng vĩ đại, lên ngôi vua, Lê Lợi vì đa nghi mà sát hại công thần. Thế là lập tức huyền thoại ra đời “đòi” lại thanh gươm hiếu sát... Rất có thể như vậy. Cũng nhờ thế mà mọi huyền thoại nói chung cứ mãi tỏa sáng những lung linh mờ ảo ý nghĩa để người đời sau phán đoán...

Ví như rùa còn là biểu tượng cho sự tỉnh táo sáng suốt. Ấy là chi tiết An Dương Vương cùng Mỵ Châu chạy đến bờ biển. Cùng đường nhà vua gọi “sứ Thánh Giang” đến giúp thì Rùa hiện lên thật. Nhưng không giúp mà hét lớn: “Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó!”. Tức rùa thần đã kết tội Mỵ Châu là nguồn cơn chính gây ra đại thảm họa...

Tranh “Lê Lợi trả gươm”.
Tranh “Lê Lợi trả gươm”.

Trở lại câu “Thương thay thân phận con rùa/ Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia”, trước đây người ta dạy cho học sinh rằng con rùa là biểu tượng cho người nông dân khốn khổ phải chịu nhiều tầng áp bức, đè nén. Ngày nay nhờ soi chiếu dưới nhiều ánh sáng mỹ học mới thì quan niệm ấy không còn vững nữa. Bởi lẽ khoác cái áo người nông dân cho con rùa thì thật không vừa, giữa hai hình tượng rùa và người nông dân có rất ít những mối liên hệ gần gũi mang tính bản chất. Thành ngữ vẫn chê “chậm như rùa” cơ mà! Nếu chỉ dựa trên nét tương liên là sự “khốn khổ” thì thật khó cho một khái quát thỏa đáng, do vậy nếu coi rùa biểu tượng cho người nông dân thì cũng rất mờ nhạt, không đặc trưng.

Xin dẫn một truyền thuyết. Có người nông dân nuôi một con rắn. Rắn lớn lên ngày ăn một nhiều trong khi người nông dân ngày một già yếu, khó nuôi cả rắn và người. Người bèn bảo rắn tự mình đi kiếm ăn. Thấy vậy rắn trắng trợn đòi cắn chết người. Người nói: “Cứu vật, vật trả ơn. Mi phải trả ơn ta mới đúng!”. Rắn đáp: “Cứu vật, vật trả oán!”. Chẳng chịu nhau bèn thống nhất đi gặp nhân vật thứ ba hỏi cho ra nhẽ. 

Cả hai gặp hạc. Nghe đầu đuôi câu chuyện hạc nổi giận mắng rắn là loại “vong ân bội nghĩa”. Rắn không chịu, cả hai đi tiếp gặp rùa. Rùa ngu ngơ không cần suy xét phán ngay, nếu thế rắn cắn người chết luôn đi vì người nuôi vật cũng không xong. Người không chịu. Cả hai đi tiếp gặp quạ. 

Nghe thủng câu chuyện quạ tức quá không nói không rằng bổ từ trên cây xuống mổ rắn chết tươi cho đáng kiếp kẻ vô nhân tráo trở. Oan hồn rắn đi tìm tận tới Đức Như Lai nhờ phân xử. Nghe xong Đức Phật khoan hòa, điềm đạm mà nói rằng: Thế là hạc có nghĩa, nhân hậu từ nay cho phép được đứng trên cao. Rùa ăn nói hàm hồ, thiển cận cho bò dưới thấp. Rắn vong ân nên bị giết là đúng. Quạ tha xác rắn lên ngọn cây cao để mọi vật nhìn rõ làm gương. Cái quý nhất của muôn loài là tình yêu thương lẫn nhau! 

Thế nên từ đó ở những nơi thờ phụng hạc được đứng lên lưng rùa. Ngoài ra, khi dựng cột phướn thì trên ngọn bao giờ cũng có hình con quạ, còn giải phướn uốn lượn chính là “họa tiết” hình con rắn. Mọi chúng sinh nhìn lên cột phướn mà suy ngẫm để tu nhân tích đức! Đấy là theo tích nhà Phật.

Cũng từ đó trong dân gian để chỉ loại người đáng khinh nhất, chanh chua, độc ác, lăng loàn, gian giảo (như rắn vậy)... người ta rủa bằng ba chữ không ngoa mà lại rất ngoa: Đồ quạ mổ!!!

Cũng từ đó hạc biểu tượng cho sự thanh cao, trong sáng. Những người tuy gầy nhẳng nhưng được dân gian nói vui là “mình thông cốt hạc” (dáng người cây thông, xương cốt của con hạc) ý nói sống thanh đạm nên mới... được vậy!

Nhưng tại sao rùa phải “đội bia”? Nguyên thủy, bia thường làm bằng đá (bia đá bảng vàng) để khắc ghi những công trạng, thần tích, gia phả... để lưu lại cho con cháu muôn đời, về sau người ta khắc ghi cả những điều không thể quên (bia căm thù tội ác) mang ý nghĩa Ok986 tải ứng dụng. Rùa là loài vật linh, sống thọ nên đặt bia trên lưng rùa là mang nghĩa mong muốn điều khắc trên bia đá lưu truyền bất tử. Nhưng đấy chỉ là nghĩa bề nổi. Như trên đã nói rùa là biểu tượng cho cả một vũ trụ, do vậy những điều khắc trên bia đá này còn ở “trên” tầm vũ trụ. Những ai được khắc trên bia đá hẳn nhiên ngang tầm và sống mãi cùng vũ trụ. Thế nên ngày xưa chọn tên người để khắc vào bia phải đích thực tài năng xuất chúng, có công lao...

Ngày nay người ta còn khám phá, vì là loài lưỡng cư, sức chịu đựng cực tốt trước biến đổi môi trường, có khả năng chịu đói rất lâu, tuy chậm chạp nhưng bền bỉ, dẻo dai... nên tự nó tạo ra một trường sinh học khá đặc biệt, là vật phong thủy tốt. Ngày xưa phép bói rùa bằng cách cho mai rùa vào lửa sẽ hiện lên những ký hiệu mang tính dự báo. Mai và xương rùa còn dùng để khắc chữ (chữ giáp cốt) nổi, nét và rõ, nhất là giữ được lâu dài. Thế nên “rùa đội bia”, được đặt chốn linh thiêng là vật phong thủy có giá trị. Ngày nay nhiều gia đình, nhiều chùa chiền nuôi rùa sống với ý nghĩa phong thủy là chính. Thiêng hóa nó, người ta còn thêm thắt chi tiết cho ly kỳ: ở ngôi chùa nọ rùa biết nghe tụng kinh Phật...

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.