Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình

Lẽ thường, rắn sẽ là con vật rất khó đi vào văn chương Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Thế nhưng, trong một số trường hợp đặc biệt, rắn vẫn đi vào các thi phẩm và tạo nên những hiệu ứng độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ với nhiều độc giả, thậm chí là người đọc của nhiều thế hệ.

  • Năm Tỵ đàm rắn luận xà
  • Biểu tượng rắn trong văn hóa Đông Tây

Trong 12 con giáp của bảng can chi, rắn (cùng chuột) là một trong hai con vật được xem là có hại nhiều hơn có lợi, bị người ta ghét hoặc ghê sợ. Điều này có thể thấy rõ qua hàng loạt câu thành ngữ tục ngữ có sự xuất hiện của rắn như: rắn đổ nọc cho lươn; cõng rắn cắn gà nhà; khẩu Phật tâm xà; miệng hùm nọc rắn; ác như rắn hổ mang; đánh rắn phải đánh khúc giữa…

Lẽ thường, rắn sẽ là con vật rất khó đi vào văn chương Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Thế nhưng, trong một số trường hợp đặc biệt, rắn vẫn đi vào các thi phẩm và tạo nên những hiệu ứng độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ với nhiều độc giả, thậm chí là người đọc của nhiều thế hệ.

Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình -0
Tranh rắn của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Xin được mở đầu với con rắn trong bài thơ ứng tác được tương truyền là của Lê Quý Đôn (1726 -1784), người được coi là nhà bác học lớn của Việt Nam trong thế kỷ 18. Chuyện kể rằng khi Lê Quý Đôn mới 10 tuổi, vì phạm lỗi trêu chọc người khách của cha, ông bị phạt và phải làm theo một bài thơ Nôm theo thể thất ngôn bát cú với nhan đề “Rắn đầu biếng học” theo yêu cầu của người khách.

Trong giây lát, Lê Quý Đôn đã ứng khẩu đọc luôn như sau: “Chẳng phải liu điu cũng giống nhà/ Rắn đầu biếng học lẽ không tha/ Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ/ Nay thét mai gầm rát cổ cha/ Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo/ Lằn lưng cam chịu vệt năm ba/ Từ nay Trâu, Lỗ xin siêng học/ Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”.

Cái tài tình của bài thơ là câu nào cũng có chữ rắn hoặc nhắc đến một loài rắn, nhưng đồng thời đơn vị chỉ rắn/loài rắn ấy lại được dùng phép chơi chữ để thể hiện thêm một ý nghĩa khác: liu điu vừa là tên một loài rắn vừa gợi ý nghĩa bé nhỏ, hổ lửa vừa là tên loài rắn vừa có ý nghĩa hổ thẹn với ngọn đèn (đèn vốn được coi là biểu tượng của sự học), mai gầm vừa là tên loài rắn vừa chỉ việc lười học khiến cha phải quát tháo (gầm), ráo vừa là tên loài rắn vừa có nghĩa tính từ là khô, lằn vừa là tên loài rắn (thằn lằn) vừa là động từ chỉ việc bị phạt roi, Trâu vừa chỉ rắn hổ trâu vừa nhắc đến quê hương của Khổng Tử (nước Trâu), hổ mang vừa là tên một loài rắn vừa thể hiện ý nghĩa “xấu hổ, mang tiếng”.

Bài thơ vừa đúng niêm luật của thể thất ngôn bát cú, vừa tuân theo chủ đề chăm học mà người ra đề yêu cầu, đồng thời thể hiện một trí tuệ thông minh và tài ứng đối tuyệt vời của cậu bé thần đồng, sau này sẽ trở thành một nhà sử học, nhà thơ, nhà giáo, nhà tư tưởng xuất sắc của thời phong kiến Việt Nam.

Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình -0
Bức tranh rắn của họa sĩ Võ Quang Phát.

Sau Lê Quý Đôn gần hai thế kỷ, Phạm Công Thiện (1941 - 2011), một gương mặt độc đáo và xuất sắc của văn nghệ Sài Gòn trước 1975 đã xuất bản một tập thơ với cái tên “Ngày sinh của rắn” (1966). Bản thân Phạm Công Thiện cũng mang tuổi rắn, là người thông thạo nhiều ngoại ngữ, nghiên cứu rất sâu về triết học. 12 bài thơ được đánh số trong tập “Ngày sinh của rắn” vì thế không phải là thứ thơ dễ đọc với độc giả phổ thông. Thơ ông thuộc dòng thơ ý niệm, đan cài nhiều triết lý, đồng thời gửi gắm nhiều hoang mang, bất ổn của tâm trạng con người trong OK9giaitri đăng nhập thực tại. Các bài số 5, số 7 và số 9 trong tập thơ này là những bài thơ có xuất hiện hình ảnh con rắn.

Ở bài số 5, con rắn gắn với sự tìm về một miền ký ức với những vẻ đẹp chỉ còn trong mơ ước: “Paris đuổi mất mây mộng hoang đường/ Đập vỡ cơn điên trên triền đá sương/ Tôi trốn giặc đời/ Tắm trong hồn hương/ Trái đu đủ/ Trong khu vườn xưa/ Con rắn nhỏ”. Ở bài số 7, con rắn lại gắn với những ngày sắp đến, là một tương lai với khá nhiều mịt mờ: “Ồ cây mồng tơi/ Của thời trẻ dại/ Tôi gọi thầm/ Rắn cuộn tròn/ Tương lai”. Ở bài số 9, đây là bài thơ duy nhất của tập viết theo thể lục bát với hình ảnh con rắn xuất hiện ngay từ câu thơ đầu tiên: “Rắn trườn vỡ trứng chim rừng/ Tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm/ Khuya buồn tủi nhục môi em/ Mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ”.

Con rắn trong thơ Phạm Công Thiện và toàn bộ tập thơ “Ngày sinh của rắn” nói chung, có thể xem là một cuộc tìm về bản thể, giãi bày cái tôi của chính tác giả với nhiều vùng kín nhiệm, bí mật, chìm khuất, trong đó có rất nhiều đổ vỡ và xa xót của những tâm sự khó nói hết thành lời.

Phải sau tập “Ngày sinh của rắn” hơn nửa thế kỷ, thơ Việt mới lại có một tác giả gây được ấn tượng đậm nét với những bài thơ viết về rắn. Đó là Trương Xuân Thiên (1979) với tập thơ lục bát “Áo hồ ly” (NXB Văn học, 2017). Trước đó, tác giả họ Trương đã cho ra mắt hai tập thơ: “Tư duy S” (NXB Văn học, 2005) và “Homo Sapiens - Người tinh khôn” (NXB Văn học, 2009), nhưng đến “Áo hồ ly” thì đây là một tập thơ thuần lục bát.

Lục bát của Trương Xuân Thiên đã từng được thi sĩ Du Tử Lê dành những lời khen ngợi: “Lục bát của Trương được ngọn hải đăng siêu thực dẫn đường cho mọi lênh đênh tìm về của thể Sáu Tám, vốn đẫm đẫm tâm cảnh và cảm thức lạc lõng bấp bênh của tuổi trẻ đương thời, trước những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”. Trong tập “Áo hồ ly”, có tới 4 bài lục bát viết về rắn. Đó là các bài Hổ mang 1, Hổ mang 2, Hổ mang 3 và Hổ mang 4.

Trong một bài viết giới thiệu về tập “Áo hồ ly” in trên Báo Văn nghệ số 26 năm 2017, tôi đã từng gọi lục bát Trương Xuân Thiên là thứ lục bát kỳ ảo, đi giữa đôi bờ của tượng trưng và siêu thực, sử dụng nhiều kỹ thuật tu từ và thủ pháp của các loại hình khác nhau như hội họa, Được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP, tâm lý/ cận tâm lý để tạo nên những câu thơ đột sáng. Bốn bài thơ “Hổ mang” cũng không đi ra ngoài phong cách chủ đạo ấy.

Xin được giới thiệu bài “Hổ mang 1”: “Đêm rằm cuội trắng vu quy/ Mà lòng suối cạn vân vi mấy mùa/ Hổ mang ngậm ngải lên chùa/ Bời bời mây trắng bỏ bùa trần ai/ Đêm qua tỉnh giấc mê dài/ Mơ thành chính quả ngự đài hoa sen/ Sáng ra hai mắt ướt nhèm/ Từ dòng máu lạnh gọi tên di đà”. Không chỉ nhân cách hóa con rắn, Trương Xuân Thiên còn thổi vào những dòng lục bát một không khí liêu trai, huyễn hoặc, hơi có phần ma quái, nói về ước mơ của rắn mà phải chăng chính là ngụ ý những mơ ước không thể nào chạm tới của mỗi kiếp người. Với mỗi bài thơ, con rắn vừa là hình tượng trung tâm, đồng thời tác giả còn muốn kể với người đọc một câu chuyện bí mật, ly kỳ.

Tiếp theo là bài “Hổ mang 2”: “Một nàng rắn chúa hổ mang/ Nằm mơ ú ớ đổi sang lốt người/ Tỉnh ra dở khóc dở cười/ Vừa mới chớp mắt đã mười năm trôi/ Hổ mang bò đến chân đồi/ Ngậm hòn cuội trắng bồi hồi vu quy/ Thế là đêm ấy thiên di/ Chín năm sinh hạ hòn bi ngọc xà”. Vẫn là một giấc mơ, nhưng trong màn sương mờ ảo của ngôn ngữ, ta nhận ra rõ hơn một khát khao về tình yêu, về hạnh phúc đôi lứa, về ước mơ được làm vợ làm mẹ. Nhưng câu trả lời cho khát khao ấy vẫn còn là một điều bí mật.

Ý thơ đan xen giữa mộng và thực, xa và gần, thiêng liêng và trần tục, hứa hẹn những câu chuyện sẽ còn được kể tiếp trong bài Hổ mang 3: Một chiều lũ rắn đưa tang/ Đại vương rắn chúa hổ mang băng hà/ Từ đồi tới bãi tha ma/ Bời bời máu lạnh la đà khóc than/ Thủy triều dâng ngập thế gian/ Núi sông cất tiếng than van âu sầu/ Ta nằm mộng thấy vực sâu/ Mặt trời khoác chiếc áo nâu ướt đầm. Tới bài này, các nhân vật được mở rộng hơn, xuất hiện cả một “lũ rắn” với “đại vương rắn chúa”. Không còn là câu chuyện về những tự sự của một cá nhân, một số phận mà hình như đã chạm tới các ẩn dụ về thế sự về thời cuộc. Giữa cái lớn lao và cái nhỏ bé, cái quyền lực và cái phục tùng, thân phận con người vẫn không thể thoát được những quy luật sinh - diệt của trời đất.

Nếu như ba bài “Hổ mang” phía trên, mỗi bài chỉ có 8 câu, thì bài “Hổ mang” cuối cùng dài tới 12 câu với sự xuất hiện của hai nhân vật chính - một cặp rắn mào: “Ngày xưa có cặp rắn mào/ Yêu nhau từ độ trăng sao lọt lòng/ Đào hang ở phía bờ sông/ Trồng hoa ở phía đồi thông phấn vàng/ Đêm đêm máu lạnh mơ màng/ Cầm tay nhau hát hỗn mang an lành/ Rắn chồng mặc áo thiên thanh/ Bắc cầu Ô Thước qua nhành mai hoa/ Hoan ca đến buổi mù lòa/ Hạ sinh được một tiểu xà tinh anh/ Rắn mào lễ tạ trời xanh/ Một đêm trăng lạnh quyên sanh trên đồi”.

Một câu chuyện tình yêu thật đẹp với đủ những ngọt ngào và mất mát. Tình yêu ấy đơm hoa kết trái để cho ra đời một “tiểu xà tinh anh”, dù sau đó sẵn sàng chấp nhận hy sinh như một lời nguyền, một hẹn thề nào đó từ trong tiền kiếp. Nói về câu chuyện của loài rắn nhưng thực ra cũng là ngụ ý những câu chuyện muôn đời của kiếp người.

Thơ về rắn trong dòng chảy văn học sử, tuy không nhiều về số lượng song cũng đã lưu lại được những ấn tượng khó phai, gắn với những sáng tạo riêng biệt và bút pháp độc đáo của mỗi thi sĩ.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.