Chữ “nhẫn” - nền tảng nhân cách, sự nghiệp!

Hiểu theo lối chiết tự thì chữ "nhẫn" được tạo bởi bộ "đao" chỉ con dao ở trên và bộ "tâm" chỉ trái tim ở dưới. Ý tượng hình của chữ nhắc nhở, nếu không giữ bình tĩnh, nóng nảy, không làm chủ được bản thân, tức không biết nhẫn nhịn thì lưỡi dao sẽ bập xuống, gây đau đớn.

  • Chằn tinh là con gì?

Hiểu cụ thể hơn, chữ "nhẫn" gồm hai chữ: chữ "nhận" (một loại vũ khí cổ) được tạo bởi bộ "đao" và bộ "phiệt". Chữ "nhận" ở trên kết hợp với chữ "tâm" ở dưới tạo thành chữ "nhẫn". Ý cũng tương tự: phải biết nhẫn nhịn, kẻo vũ khí đâm vào tim. Hiểu rộng ra, ngoài để răn mình, biết làm chủ chính mình, có "nhẫn" là còn phải biết mở lòng vị tha, khoan dung với người, đừng cố chấp mà nên rộng rãi, nhìn vào cái tốt của người.

image003.jpg -1
Nhà phát minh Thomas Edison (1847 – 1931) trong phòng thí nghiệm.

Vì thế "nhẫn" là nhẫn nhịn, nhẫn nại chứ không nhẫn nhục, nhịn nhục, cam chịu để chiều nịnh, theo đuôi kẻ khác. Bức tranh thư pháp chữ "nhẫn" được nhiều người ưa thích dành treo nơi trang trọng là một cách để răn mình, dạy con cháu phải lấy đó làm nền móng ngôi nhà nhân cách không nghiêng ngả, làm nền tảng cho kết cấu gia đình bền vững, hạnh phúc.

Chữ "nhẫn" có nghĩa là điềm đạm, bình tĩnh đối lập với vội vàng, nóng nảy. Người có nhẫn luôn có tâm thế "vững như bàn thạch". Mọi cái nguy biến xảy ra không tác động, chi phối tiêu cực đến suy nghĩ nên thường có lời nói, hành động chuẩn mực, giải quyết tình thế nhẹ nhàng, biến cái "đại sự" thành "tiểu sự", biến cái "tiểu sự" thành "vô sự". Nghĩa là đã hiểu mình, hiểu đời, hiểu người. Như vậy có được chữ "nhẫn" rất khó, phải là cả một quá trình tu tâm dưỡng tính lâu dài, bền bỉ.

Vì thế cổ nhân luôn nhắc người giàu mà biết nhẫn, sẽ bảo vệ được gia đình, của cải, danh phận. Người nghèo mà có nhẫn sẽ không cảm thấy nhỏ bé, tự ti. Cha con mà biết nhẫn, gia đình sẽ hòa ái, hiếu thuận. Anh em cư xử bằng nhẫn, mọi việc suôn sẻ, êm đềm… Người Việt có truyền ngôn (khuyết danh) dễ nhớ, dễ thuộc: "Cha con nhẫn nhịn nhau/ Vẹn tròn đạo lý/ Vợ chồng nhẫn nhịn nhau/ Con cái khỏi bơ vơ/ Anh em nhẫn nhịn nhau/ Trong nhà thường êm ấm/ Bạn bè nhẫn nhịn nhau/ Tình nghĩa chẳng phai mờ". Có thêm phương ngôn đồng nhất "nhẫn" với một "một bước lùi" nhưng là "lùi" để mà "tiến" vì làm chủ được chính mình, thấu hiểu hoàn cảnh, thấu cảm lòng người: "Nhẫn một bước gió yên bể lặng/ Lùi một bước biển rộng trời cao".

Trước nay chữ "nhẫn" vẫn được coi là một nguyên tắc ứng xử văn hóa, thậm chí là một nguyên tắc phổ quát có ở mọi thời, mọi nơi, nhất là với các tôn giáo lớn. Đạo Công giáo luôn dạy con người yêu thương nhau, biểu hiện bằng sự nhường nhịn, nhẫn nhịn, nín nhịn nhau. Rất đúng với một tục ngữ Việt: "Một điều nhịn, chín điều lành".

Đức Chúa Giêsu dạy mọi người nên yêu thương cả chính kẻ thù của mình. Vì chỉ có lòng yêu thương quảng đại mới đủ sự nhẫn nhịn để kiềm chế cảm xúc tức giận mà bỏ qua cho kẻ định hãm hại mình. Thế nên dù biết rõ Giuđa âm mưu phản chúa, Người vẫn coi như không có chuyện gì xảy ra, vẫn khuyên bảo hắn hướng về cái thiện. Điều này gặp gỡ với quan niệm Phật giáo: lấy ân trả oán thì hết oán. Lấy oán trả oán thì oán gấp đôi.

Triết lý nhà Phật dạy: "Bất nhẫn bất giới, tiểu sự thành đại/ Nhất thiết, chư phiền não, giai tòng bất nhẫn sinh" (Không nhịn không kiêng, việc nhỏ hóa to/ Tất cả mọi sự phiền não, bởi không nhẫn nhịn mà ra). Như vậy "nhẫn" còn là để giữ mình. Phật thoại kể, một hôm Đức Phật đi dọc bờ sông bỗng thấy một con dã can (một loài sói) muốn ăn thịt con rùa. Nhưng con rùa thụt đầu và cả tứ chi vào trong mai, rồi nằm yên mặc dã can làm gì thì làm. Không đủ kiên nhẫn, một lúc sau dã can bỏ đi. Đức Phật nói với Tôn giả A Nan đi cùng rằng: "Người tu hành cũng nên (như con rùa) như vậy". Tức trước kẻ định ăn thịt mình phải biết ẩn đi, còn nếu "xuất đầu lộ diện" thì thật khó bảo toàn sinh mệnh.

Nhẫn là nhẫn nại, kiên trì theo đuổi mục tiêu, lý tưởng. Phật thoại kể tiếp, có hai người đều giàu lòng từ bi, hay giúp đỡ người. Một ông tính nhẫn nại gọi là Năng Nhẫn, còn ông kia nóng nảy gọi là Bất Năng Nhẫn. Hai ông tu hành ở một ngôi chùa gần rừng nên hàng ngày chim chóc tha rác vào làm tổ, chồn kéo nhau vào đào hang. Ông Năng Nhẫn không hề kêu ca phàn nàn, mà cứ điềm nhiên tụng kinh niệm Phật, cuối ngày dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ. Còn ông Bất Năng Nhẫn thì xua đuổi mọi vật, quát tháo om sòm. Mười năm trôi qua, chỉ ông Năng Nhẫn đạt quả vị Bồ Tát, còn ông Bất Năng Nhẫn tuy dày công tu hành, nhưng kém phần nhẫn nhịn nên không được lên cõi Niết bàn. Thì ra giàu lòng yêu thương chưa đủ, còn phải biết nhẫn nại, kiên trì đến cùng mục tiêu đã chọn.

Một biểu hiện cơ bản của nhẫn là nhịn, chịu phần thiệt về mình (lùi một bước). Vì nếu ai cũng nhận phần hơn thì cấu trúc cuộc sống sẽ bị phá vỡ. Trước khi tạm biệt thầy, trò Tử Trương xin thầy Khổng Tử lời khuyên để tu thân, Khổng Tử nói: "Cái gốc của nết, chữ nhẫn là cao hơn cả". Tử Trương: "Tại sao phải nhẫn?". Khổng Tử: "Thiên tử nhẫn, nước vô hại. Chư hầu nhẫn, thành nghiệp lớn. Anh em nhẫn, nhà giàu sang. Vợ chồng nhẫn, danh rỡ ràng. Bản thân nhẫn, tránh được tai ương". Tử Trương hỏi: "Nếu không nhẫn thì sao?". Khổng Tử: "Thiên tử không nhẫn, nước trống rỗng. Chư hầu không nhẫn, phải chôn thây. Anh em không nhẫn, phải chia ly. Vợ chồng không nhẫn, tình nhạt nhẽo. Bản thân không nhẫn, gặp tai ương". Tử Trương: "Hay quá! Nhưng nhẫn khó lắm thay!". Khổng Tử kết luận: "Không biết nhẫn, không phải người!".

Chữ “nhẫn” - nền tảng nhân cách, sự nghiệp! -0
Hình ảnh minh họa Câu Tiễn “nếm mật nằm gai”.

Câu kết của Khổng Tử được người đời sau chứng minh đúng ở nhiều phương diện. Xin kể trường hợp: không nhẫn không thành tướng (phi nhẫn bất thành tướng). Trong thời Tam Quốc, Tư Mã Ý là trọng thần phò tá bốn đời triều Tào Ngụy, nhưng thuở ban đầu đã bị Tào Tháo coi là mầm mống phản loạn. Biết thế, Tư Mã kiên tâm ẩn nhẫn, không thể hiện tài năng xuất chúng. Mãi khi về già, được Ngụy đế Tào Duệ ủy thác, gửi gắm sứ mệnh phụ chính đại thần cho vua mới. Thế là 70 tuổi, Tư Mã Ý mới làm binh biến, soán ngôi. Rõ ràng không giấu mình chờ thời, Tư Mã Ý không được coi là tướng thành công nhất thời Tam Quốc.

Câu chuyện sau chứng minh không nhẫn không thành đại nghiệp (phi nhẫn bất thành đại nghiệp). Trận đánh cuối cùng ở Cối Kê đã kết thúc chiến tranh hai nước Việt - Ngô. Quân Việt đại bại. Vua Ngô Phù Sai bắt vua Câu Tiễn cùng Hoàng hậu và tướng tài Phạm Lãi mang về đất Ngô. Với ý đồ làm hết ý chí phục quốc, vua Ngô bắt ba người tù hàng ngày phải cắt cỏ ngựa, quét dọn chuồng ngựa. Câu Tiễn cam chịu tất cả. Phù Sai còn thử bằng nhiều việc làm khổ sở khác, Câu Tiễn đều làm theo đúng ý. Cho rằng đã hoàn toàn quy phục, ba năm sau, Ngô Phù Sai trả tự do cho Câu Tiễn.

Về nước, Câu Tiễn tự sống thật kham khổ để nuôi chí lớn, lạnh không đắp chăn, nóng nằm bên bếp lửa. Dưới chỗ nằm trải một lượt gai, phía trên treo một túi mật đắng, thỉnh thoảng ngồi dậy nhấm một giọt. Câu Tiễn báo thù thành công. Thành ngữ "Nếm mật nằm gai" có xuất xứ từ đấy, chỉ những người nhẫn nại nuôi chí lớn phụng dựng đại nghiệp. Từ đó, ở phương Đông có thành ngữ "Chính sách Câu Tiễn" nói về việc phải biết nhẫn nhịn trước đối phương mạnh hơn nhiều, tu chí, rèn binh, đợi thời để giành thắng lợi!

Xét kỹ, làm gì cũng cần có lòng quyết tâm và kiên trì. Đó là "nhẫn". Câu chuyện "Ngu Công bạt núi" trong sách "Liệt Tử" (viết vào thế kỷ thứ IV - V TCN) kể, trước cửa nhà Ngu Công đã gần 90 tuổi có hai ngọn núi cao nên việc đi lại rất bất tiện. Ông quyết bạt núi. Nhiều người cười hỏi làm sao có thể xong việc được. Ngu Công nói đời tôi chưa xong thì đời con cháu tôi làm. Việc nhất định xong! Thì ra chữ "Nhẫn" cần có ở mọi tuổi tác.

Trên đời này, ai cũng muốn thành công. Nhưng điều tiên quyết là phải có ý chí và tính kiên nhẫn. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài "Nhẫn thì qua" đã khái quát: "Chưa dễ ai là bụt Thích Ca/ Mọi điều nhân nghĩa, nhẫn thì qua". Ngày nay, theo tỷ phú Jack Ma, để có thành công bạn luôn phải vượt qua những khó khăn. Thất bại ban đầu là đương nhiên. Chỉ có sự không ngừng kiên trì, nhẫn nại mới giúp giấc mơ thành sự thật.

Trong nghiên cứu Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026, nhà bác học Thomas Edison tiêu biểu cho chữ "nhẫn". Để có bóng đèn điện, ông phải thử nghiệm hàng chục nghìn lần. Câu nói nổi tiếng của thiên tài cần được tạc bằng vàng đặt trong bảo tàng phát minh thế giới: "Tôi không thất bại. Tôi chỉ tìm ra 10.000 cách (bóng đèn) không hoạt động". Thế là phải có 10.000 thất bại để có 1 thành công!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.