Vua Trần Thái Tông tiễn sứ Bắc quốc về nước

Hầu như các vua nước ta ở đời Trần đều tiếp và tiễn đưa các vị sứ thần Bắc Quốc về nước. Mỗi người mỗi hoàn cảnh và đối tượng khác nhau, nhưng đều có dấu ấn để lại qua thơ ca của họ. Vua Thái Tông Trần Cảnh (1218-1277) có bài thơ "Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh", rất thú vị.

  • "Mật mã Leicester" - kiệt tác Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 và Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 bí ẩn nhất
  • Kỳ án hồ Dâm Đàm hay nỗi oan thiên kỷ?

Phiên âm:

Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh

Cố vô quỳnh bảo tự hoài tàm,
Cực mục giang cao ý bất kham.
Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am.
Mạc không nan trụ yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam.
Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thi nhiên liêu vị dáng thanh đàm.

Dịch nghĩa:

Tiễn sứ Bắc Trương Hiển Khanh
Nghĩ không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng tự thẹn,
Trên bờ sông nhìn xa mãi xiết bao ngậm ngùi.
Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà dọi vào phòng sách.
Màn trống khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ẩm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam.
Lần đi này chưa biết ngày nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì có cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.

tiễn sứ 2.jpg -0
Tranh minh họa cảnh tiễn sứ về nước.

Dịch thơ:

Thẹn không ngọc báu tạ ơn lòng,
Bát ngát nhìn sông dạ rối bong.
Đầu ngựa gió thu khua bảo kiếm,
Nóc nhà trăng dọi sáng thư phòng.
Én về đất Bắc màn trơ trọi,
Nhạn biệt trời Nam, tiếng não nùng.
Nghiêng lọng ngày nào chưa dễ biết,
Thơ này xin thế chuyện riêng chung.

(Đào Phương Bình dịch)

Đây là bài thơ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) viết tặng Trương Hiền Khanh (tức Trương Lập Đạo) khi ông sứ thần này được vua nhà Nguyên phái sang nước Đại Việt ta để “truyền chỉ dụ” vào năm 1265.

Ông Trương Lập Đạo còn được phái sang nước ta lần thứ hai, vào năm 1291, dưới triều vua Trần Nhân Tông. Lần này nhà Nguyên ngạo mạn hơn, hạ chiếu đòi vua Trần Nhân Tông phải đích thân sang chầu, nhưng vua quan nhà Trần khôn khéo tìm cách từ chối.

Như vậy, bài thơ “Tống Bắc sứ Trương Hiền Khanh” được vua Trần Thái Tông viết nhân dịp ông sứ thần nhà Nguyên Trương Hiền Khanh đã hoàn thành nhiệm vụ bang giao mà trở về phương Bắc.

Cuộc tiễn đưa có vẻ lưu luyến, diễn ra trên bờ sông, chắc chắn là sông Nhĩ Hà, đời Trần còn gọi là Lô Giang (sông Lô). Bến Đông Bộ đầu, (nay là khoảng phố Hòe Nhai, Hà Khẩu, Hàng Than, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) thường là nơi tiễn đưa các sứ đoàn nước ta đi phương Bắc, hoặc sứ thần Bắc Quốc về xứ Bắc. Từ bến sông lịch sử này, các sứ đoàn sẽ qua sông Lô bằng thuyền buồm, rồi lên bờ Bắc, ở quãng Ái Mộ, quận Long Biên ngày nay để tiếp tục đi sang Kinh Bắc, rồi lên biên giới Lạng Giang.

Vị chủ nhà khiêm nhường nói khéo:

Nghĩ rằng không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng cảm thấy tự thẹn,
Trên bờ sông, nhìn xa mãi xiết bao ngậm ngùi.

(Cố vô quỳnh bảo tự hoài tàm / Cực mục giang cao ý bất kham)

Đấy là hai câu thơ mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường. “Quỳnh bảo”, tức thứ ngọc quỳnh rất quý, người xưa thường dùng vật quý này để tặng nhau.

Sách Kinh Thi (thiên Vệ Phong) có câu: “Đào ngã dĩ mộc đào/ Báo chi dĩ quỳnh dao” (Tặng ta quả mộc đào/ Ta đáp lại bằng ngọc quỳnh dao). Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" cũng tả vẻ đẹp phong nhã trong mỗi bước đi của chàng thư sinh Kim Trọng:

Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
”…

Sứ thần nhà Nguyên sang nước ta, lúc đầu thường vẫn vênh vang tự đắc, cao ngạo như một kẻ bề trên, thượng quốc. Vua của họ tự xưng là Thiên tử (con Trời). Ta là nước nhỏ, chỉ được xem là nước chư hầu, vua cũng chỉ ở ngôi Vương (An Nam Quốc Vương), nên việc tiếp đón sứ thần thượng quốc là một việc rất hệ trọng, có vai trò vô cùng cần thiết trong mối quan hệ bang giao, nhằm giữ cho được hòa bình, lại phải giữ cho được thể diện và quyền tự chủ của một quốc gia độc lập. Cho nên, các vua Đại Việt phải rất khéo léo trong ứng xử. Sách lược “Nội cương, ngoại nhu” (Trong cứng, ngoài mềm), “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, luôn được thực thi một cách triệt để, như một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 ngoại giao tài tình.

Ở lâu, đàm đạo văn chương thù tạc cũng nhiều, cho nên sứ thần phương Bắc mới dần hiểu và càng nể phục ý chí và tài năng thơ phú của vua quan nước ta, đặc biệt là ở đời nhà Trần. Hiểu nhau, nể trọng nhau rồi thì thành ra quan hệ trở nên gần gũi hơn. Thế nên cuộc tiễn đưa mới có vẻ bịn rịn và chân thành.

Vua Trần Thái Tông nói rằng “Nghĩ rằng không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng cảm thấy tự thẹn” là có cái ý khiêm cung đấy thôi. Hình như nhà thơ muốn nói rằng mình không có tài thi phú để làm được bài thơ hay tặng khách quý đấy chăng?

Mượn điển bên Tàu, dùng văn hóa Tàu để giao đãi với sứ thần nước ấy, cũng là một sự khéo léo, khiêm nhường. Nhìn chiếc thuyền chở sứ thần nước Nguyên, giờ đây đã như một người bạn quý, nên cuộc tiễn biệt mới có cảm xúc chân thành như vậy. Hôm ấy, chắc sông Hồng mênh mang sương khói, chiếc thuyền khách cứ xa dần, xa dần, trôi dần sang bờ Bắc, đem theo một người bạn quý chả biết có khi nào gặp lại.

Chẳng phải cũng ngậm ngùi lắm sao?

Hai câu thơ tiếp theo, tả thực, nhưng là để mượn cảnh mà tả tình:

Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am.

(Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà, lọt vào phòng sách)

Câu trước tả hình ảnh người ra đi, tức vị khách quý. Câu sau tả quang cảnh trống vắng của căn phòng đọc sách mà khách và chủ có thể đã từng nghiền ngẫm và đàm đạo văn chương ở cung điện của nhà vua trong suốt những ngày qua. Cảnh chỉ mang tính biểu tượng, có phần ước lệ, nhưng có phần sáng tạo, gần gũi và hợp tình. Đỗ Phủ khi làm thơ nhớ Lý Bạch có câu:

Lạc nguyệt mãn ốc lương,
Do nghi chiếu nhan sắc

(Trăng sáng đầy rường nhà/ Những tưởng dọi sáng dung nhan).

Vua Trần Thái Tông mượn điển bên Tàu, cốt để gửi gắm cái tình của người đương thời, của người trong cuộc, của mình với ngài Trương Lập Đạo đại nhân mà thôi.

Còn như:

Màn trướng khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ẩm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam.

(Mạc không nan trụ yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam)

Thì lại là những cảm nghĩ, những suy tư lưu luyến của người ở lại. Cái việc ngài sứ thần trở về phương Bắc là không thể khác được, dầu cho cái tình lưu luyến đã là sâu đậm như thế nào chăng nữa. Đồng thời, cái tình của người phương Nam với sứ thần cũng tương tự như vậy.

Thế nên:

Lần đi này chưa biết ngày nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì có cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.

(Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thì thiên lưu vị dáng thanh đàm).

“Nghiêng lọng” vốn là một tích xưa. Sách "Gia ngữ" chép câu chuyện Khổng Tử đi sang đất Đàm, gặp Trinh Tử ở dọc đường. Hai người dừng lại, nghiêng lọng nói chuyện với nhau cả ngày, tình rất tâm đầu ý hợp. Tác giả mượn điển này để tỏ cái tình lưu luyến của mình với bạn trong cuộc chia tay chưa biết bao giờ mới có cơ hội gặp lại. Âu cũng là cái tình muôn thuở vậy!

Có thể hình dung tổng thể bài thơ của Trần Thái Tông là viết tặng sứ thần Trương Lập Đạo (Trương Hiền Khanh). Viết trong cuộc chia tay ở kinh thành Thăng Long, có thể là sau yến tiệc cung đình tiễn khách như thường lệ. Còn như cảnh tiễn đưa cũng chỉ là chuyện sắp tới, có thể là được diễn ra trong sớm mai, khi ngài sứ thần lên đường trở về phương Bắc.

Giao đãi với người, lại chỉ dùng vốn hiểu biết văn hóa xứ người, là không thể khác, nhưng đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh của một ông vua có văn hóa, mặc dù hồi ấy chữ Hán được dùng như một văn tự chính thống của nước ta. Tinh tế, khôn ngoan, nhưng cũng chân thành nồng ấm. Đó chính là cái tình lớn của những người bạn lớn, quan thiết đến công cuộc bang giao và vận mệnh của hòa bình.

Qua những lần tiếp xúc trực tiếp với vua quan nước Đại Việt, Trương Lập Đạo dần tỏ ra rất kính trọng vua quan nhà Trần và truyền thống văn hóa, văn chương đặc sắc của người Đại Việt. Chính ngài Trương Hiển Khanh từng viết:

Nước Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương,
Chưa thể nói một cách nông cạn rằng, họ như ếch ngồi đáy giếng
!”.

Trong bang giao rất tế nhị với sứ thần Bắc Quốc, nếu đó là người nước Tống làm quan cho nhà Nguyên, các vua Trần thường khéo léo có ý nhắc nhở về thân phận các vị sứ thần Bắc Quốc rằng, chính họ, chẳng qua cũng chỉ là kẻ nô lệ cho ngoại bang, cho người Mông Cổ, chứ vẻ vang cái nỗi gì! Họ còn nhục nhã ngậm đắng nuốt cay mà phải cam lòng cúi ngửa trước kẻ thống trị. Còn như Đại Việt ta nhỏ bé, nhưng vẫn là một quốc gia chiến thắng, một quốc gia độc lập, có truyền thống văn hóa ngàn đời. Thử hỏi, ai hơn ai nào!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.