Võng điều em trải chiếu hoa

Hàng Chiếu (phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội) là con phố đầy kỷ niệm với tôi một thời trai trẻ. Nơi đây tôi khá thân với cố thi sĩ Tạ Vũ (1935-2014) ở ngay đầu phố (số 3).

  • Một thoáng Đồng Hới

Ông thường dẫn tôi đi xem múa rối ở rạp Long Biên số nhà 76 Hàng Chiếu. Đặc biệt, món bún ốc nguội ở ngay dưới nhà ông luôn làm tôi cay sè mũi và hắt hơi liên tục. Ăn mỗi con ốc ông tợp một ngụm rượu rồi khà khà khoái trá. Sau đó chúng tôi sang đường uống trà chén bên thềm cổng Ô Quan Chưởng (xây năm 1749).

Những mảnh phố trầm luân

Theo như nhà thơ Tạ Vũ kể, Ô Quan Chưởng còn khá nguyên vẹn kiến trúc được sửa lại năm 1817. Ông được sinh ra trên con phố này và thường leo lên nóc cổng Ô nghe chim hót. Từ thời Lê-Trịnh phố dài hơn 300 mét chỉ bán chiếu trơn và chiếu hoa. Sau mới bị cắt thành hai phố Ô Quan Chưởng (từ bờ sông đi vào mặt cổng Ô phía trước). Còn phố Hàng Chiếu từ mặt cổng sau kéo tới ngã tư Hàng Đường - Đồng Xuân - Hàng Mã.

Có lần nhà thơ cho tôi xem ảnh phố xưa rặt những kẻ chợ từ Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa và Ninh Bình tới mở cửa hàng bán chiếu. Phố Hàng Chiếu bên bờ hữu sông Tô chạy song song với Hàng Buồm phía bên kia. Cánh thương hồ thường giao lưu hai bên phố sau khi nghỉ ngơi. Câu ca dao hay nhất về yêu đương đã ra đời trên sông Tô ngày ấy rằng: “Ước gì sông hẹp một gang/ Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”.

Hàng Buồm lợi thế ở ngay đầu cửa bến chợ Gạo, nơi sông Hồng chảy vào. Nhưng phố Hàng Chiếu lại là bờ sông rộng hơn và bến đò Ngang lên cổng Ô Quan Chưởng có lính canh cẩn trọng. Kẻ chợ tứ phương xuôi sông Hồng về tới bến đò Ngang không thể không qua cổng Ô Quan Chưởng để đưa hàng vào phố. Tại đây dân thương hồ vẫn còn truyền tai nhau câu dân gian: “Đường thủy có bến đò Ngang/ Qua Ô Quan Chưởng xem hàng chiếu tăm/ Giúp em đôi chiếu em nằm/ Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo”.

Võng điều em trải chiếu hoa -0
Góc phố bán chiếu.

Có lần nhà thơ Tạ Vũ cam đoan với tôi rằng trước kia danh nhân Nguyễn Trãi (1380-1442) đã gặp người đẹp Nguyễn Thị Lộ (1400-1442) ở tại con phố này. Nguyễn Trãi bị giặc nhà Minh (đô hộ từ 1414-1427) quản thúc tại Đông Quan. Ông về mở lớp dậy học ở vùng Khuyến Lương - Thanh Trì và thường đi thuyền vào thành nghe ngóng tin tức.

Chuyện Nguyễn Trãi gặp cô bán chiếu 18 tuổi ngỡ như huyền thoại nhưng đã diễn ra ngay tại con phố này. Thế rồi nhà thơ Tạ Vũ vừa uống rượu, vừa ngâm nga câu thơ của Nguyễn Trãi: “Ả ở nơi nào bán chiếu gon?/ Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?/ Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi?/ Đã có chồng chưa được mấy con?”. Bốn câu hỏi tình tứ này được ông ngâm điệu mưỡu (hát nói trong ca trù) thật điệu đà. Nhưng sau đó Tạ Vũ ngồi im lặng với đôi mắt đục mờ. Ông gõ ngón tay vào tường thành cổng ô rồi ứa nước mắt. Có lẽ ông đã khóc cho nhân tình thế thái một thuở oan nghiệt của cuộc đời Nguyễn Trãi sau đó.

Những mảnh đời dang dở của những người bán chiếu trên phố còn kéo dài đau khổ sau khi giặc Pháp thống trị. Chúng lấp sông Tô và gây ra những đám cháy dẫy quán lá rồi đuổi dân nghèo đi (1889). Con phố Tây đầu tiên của Hà Nội được mọc lên từ đây. Họ chiếm đoạt bến bãi và xây xưởng dệt vào OK9 thể thao xanh chín đủ ngành nghề và đặt tên phố là “Jean Dupuis”. Nhưng vì đây là tên của một thương nhân kiêm gián điệp cho Pháp đánh chiếm Hà Nội nên mọi người không phục mà chỉ gọi là “Phố Mới”. Trong ca dao Thăng Long xưa vẫn còn ghi: “Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than/ Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Ngang, Hàng Đào…”. Mãi sau năm 1945 phố được đổi tên lại như xưa -Hàng Chiếu.

Vì ở cạnh chợ Đồng Xuân và nối với đê sông Hồng và bến cảng nên phố Hàng Chiếu trở thành vùng đất phức tạp nhất khi đó. Đặc biệt, ngôi nhà số góc phố Hàng Chiếu và Hàng Giầy chính là xưởng cắt may quân phục một thời của Pháp. Sau họ bỏ đi rồi cho người Hoa thuê để làm nhà cầm đồ Vạn Bảo và cho vay nặng lãi. Biết bao mảnh đời đói rách đã mất mạng từ ngôi nhà này. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng viết chuyện của chính người nhà mình đi cầm đồ ở đây. Những đoàn người vật vã kêu khóc vì mất nhà cửa, ruộng vườn vì lãi suất cắt cổ. Họ lê từng bước trên phố như những bóng ma hiện hồn trong đêm tối tuyệt vọng. Ngôi nhà Vạn Bảo ấy sau này trở thành cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh (vẫn còn biển hiệu ghi lại).

Phía giữa phố còn có chợ người nữa mới ghê (hình thành từ đầu thập niên 3 thế kỷ XX). Nhà thơ Tạ Vũ nhớ, từ bé ông đã chứng kiến hàng chục đàn bà con gái chờ kẻ mối lái đưa đi làm con sen, con ở nhà giầu hay quan tây. Thậm chí còn những kẻ dẫn mối lừa các cô ở quê đi làm gái nữa. Chợ người ở ngay đầu ngõ nối sang chợ Đồng Xuân (nay gọi là ngõ Đồng Xuân).

Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã từng tới đây trải nghiệm thực tế dài ngày để viết thiên phóng sự “Cơm thầy cơm cô” đẫm nước mắt về thân phận người nghèo. Nhà văn cũng phải kiếm ăn từng bữa trong đói rách nên thấu hiểu cảnh trầm luân kiếp người. Những bài phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã gây chấn động Ok9 cab trò chơi casino phổ biến năm 1936. Mãi cho tới những thập niên 60 thế kỷ XX, phố Hàng Chiếu vẫn còn những cảnh chợ người này. Một số người mù ngồi lang thang bán thuốc lậu cho người qua đường.

Một thời oanh liệt cửa Ô

Ô Quan Chưởng xưa có tên là Thanh Hà Môn là một trong những cửa ô chính của thành Đại La. Phố Hàng Chiếu được hình thành trên đất thôn Thanh Hà, huyện Thọ Xương xưa. Giặc Pháp đánh chiếm Hà Nội đã điều quân qua Đông Hà Môn để đánh tập kích vào phía Nam Thành (năm 1873). Tại đây đội quân nhà Nguyễn dưới sự chỉ huy của viên Chưởng Cơ đã chiến đấu đánh chặn quyết liệt. Hàng chục lính Pháp đã chết ngay trên bến sông Tô. Viên Chưởng Cơ cũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và gục ngã cùng đồng đội dưới lá cờ Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Chính vì thế sau này Thanh Hà Môn đã được đổi tên là Ô Quan Chưởng để tưởng nhớ đến những người anh hùng này.

Võng điều em trải chiếu hoa -1
Phố Mới 1906.

Cửa Ô sừng sững hiên ngang còn là minh chứng cho cuộc chiến đấu mãnh liệt của những chiến sĩ trung đoàn Thủ đô vào ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Cuộc chiến đấu kéo dài tới 17/2/1947. Đây là một công sự quan trọng của mặt trận Đồng Xuân (Liên khu I). Các chiến sĩ tại Ô Quan Chưởng có nhiệm vụ đánh chặn những cánh quân giặc Pháp tiến vào phía sau chợ Đồng Xuân. Ngày 14/2/1947, mặt trận chợ Đồng Xuân trở thành trọng điểm tấn công của quân viễn chinh Pháp. Chúng dùng xe tăng và máy bay yểm trợ để xông vào trận địa. Các chiến sĩ ở Ô Quan Chưởng đã lập chiến hào, dũng cảm quyết chiến, tiêu diệt nhiều lính Pháp. Sau đó chính Ô Quan Chưởng là một trong những tuyến đường rút lui của trung đoàn Thủ đô. Các chiến sĩ cảm tử vượt đê, qua gầm cầu Long Biên để sang bãi giữa lên chiến khu.

Nhà thơ Tạ Vũ nhớ lại một thuở chói chang của lịch sử Ô Quan Chưởng và coi đó là niềm tự hào của tuổi thơ mình trong những ngày binh lửa. Mọi người trong những khu nhà đã đem hết giường tủ và bàn ghế cùng những bao cát chồng lên tạo công sự chiến đấu. Ông nhớ khi đoàn quân rút đi dưới lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trên cửa Ô. Lời bài hát "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi vang lên từ loa phố tạo nên âm hưởng hùng tráng: “Này lớp lớp người đi ánh sao tưng bừng chói lói lòng ta/ Mai này lớp lớp người đi thét vang trời khải hoàn/ Nhìn đây máu chúng ta tưới bao nhiêu đất này ta tưới ngày mai vút lên…”.

Hồn xưa phố mới

Hàng Chiếu là một trong số ít phố còn bán hàng truyền thống theo tên phố từ những ngày đầu tiên. Vậy là đã mấy trăm năm qua những tấm chiếu hoa, chiếu cưới vẫn được bày bán như ngày nào. Cho dù phố đã có nhiều đổi thay về các mặt hàng nhưng dẫy bán chiếu luôn đầy ắp duyên nợ ba sinh với thế gian. Màu sắc Thăng Long - Hà Nội được tô điểm với sự bền bỉ qua những tấm chiếu đồng quê. Con phố gắn bó với hình ảnh dân gian: “Chiếu hoa giàn mặt giải đàng/ Giải hết các ngõ nhà nàng đến nhà anh”. Bỗng dưng tôi lại nhớ tới ngôi nhà ba tầng của thi sĩ Tạ Vũ ngày nào luôn có chiếc võng được trải chiếu nằm trên. Bao giờ ông cũng mời chào mỗi khi có khách tới chơi bằng câu ca dao: “Mấy khi bạn đến chơi nhà/ Võng điều ra rước chiếu hoa trải ngồi”. Nghe thật xao xuyến tấm lòng. Phố Hàng Chiếu thân thương.

Vương Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.