Tú Xương - những “cái lạ đời”!

Thế giới thơ Tú Xương là thế giới của cái “lạ đời” ở chỗ đã kiến tạo nên một mô hình tiếng cười rất riêng, không giống ai, sắc nhọn, đanh đá, chua chát, đau đớn. Đó là một mô hình của “thế giới lộn ngược”, tất cả cứ lộn “tùng phèo”, tréo ngoe, oái oăm. Tiếng cười luôn là một mã văn hóa của thời đại, của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 nên giải mã tiếng cười sẽ góp phần tìm được bản chất, xu thế thời đại và tâm hồn, tính cách Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Các nhà trào phúng lớn thực sự là những nhà văn hóa lớn.

  • Mỹ học tiếng cười Tú Xương!
  • Về xuất xứ bức tranh "Nhà thơ Tú Xương"

Vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” (là người ghi chép) lý luận văn học hiện đại cho rằng nhà văn phải là người “kiến tạo hiện thực” tức phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Thoát thai từ OK9giaitri đăng nhập nên tác phẩm là mô hình của OK9giaitri đăng nhập chứ không phải bản thân OK9giaitri đăng nhập, do vậy tài năng nhà văn mang tính quyết định. Nhà văn sống với OK9giaitri đăng nhập thế nào thì có tác phẩm như vậy.

“Tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với OK9giaitri đăng nhập. Có người kêu to phải “trao quyền tự do sáng tạo” cho nhà văn (!?). Thực tế có ai cấm ai “tự do sáng tạo” đâu. Chỉ sợ viết không hay thôi. Cứ “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng OK9giaitri đăng nhập nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động theo nguyên lý “sống đã rồi hãy viết” (Nam Cao) cộng với cái tài, may ra mới có tác phẩm đích thực. Xin giới thiệu “mô hình” “lạ đời” trong thơ Tú Xương để chứng minh những điều này.

Tú Xương - những “cái lạ đời”! -0
Tú Xương (1870 - 1907).

Tú Xương có câu thơ rất thâm thúy: “Cờ biển vua ban cũng lạ đời!” (Ông Tiến sĩ mới). “Cờ biển” của “vua” luôn mang tính chuẩn mực quan phương thế mà còn “lạ đời” huống hồ những cái bình thường khác!? Cái sự “ban” “cờ biển” này “lạ đời” thì đương nhiên “người ban” cũng “lạ đời” nốt.

Thế giới thơ Tú Xương là thế giới của cái “lạ đời” ở chỗ đã kiến tạo nên một mô hình tiếng cười rất riêng, không giống ai, sắc nhọn, đanh đá, chua chát, đau đớn. Đó là một mô hình của “thế giới lộn ngược”, tất cả cứ lộn “tùng phèo”, tréo ngoe, oái oăm. Tiếng cười luôn là một mã văn hóa của thời đại, của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 nên giải mã tiếng cười sẽ góp phần tìm được bản chất, xu thế thời đại và tâm hồn, tính cách Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Các nhà trào phúng lớn thực sự là những nhà văn hóa lớn.

Thời Tú Xương sống là cái thời có nhiều bi hài kịch nhất: sự hỗn loạn, sự lai căng của văn hóa ngoại lai, sự xuống cấp trầm trọng của đạo lý, đạo đức, sự thối nát của Link Trang Chủ Nhà Cái OK9 Mới Đăng Ký +69K. Đó là cái thời có nhiều chân dung, nhiều hình ảnh, nhiều sự kiện đáng lên án, đáng phê phán nhất. Trong thơ Tú Xương có gần như đầy đủ chân dung các loại người từ vua quan, Tây, Tàu, thầy đồ, gái điếm, cô đầu, kẻ buôn, sư sãi… và cũng có rất nhiều nghề, nhiều nghiệp.

Tú Xương lớn bởi ông không chỉ cười một loại người nào, một hạng người nào hay một tính cách đáng cười nào mà ông cười cả một thời đại. Ý nghĩa phổ quát của tiếng cười Tú Xương vượt qua ý nghĩa của văn chương thông thường mà vươn tới tầm lịch sử để đòi thay đổi cả một trạng thái Ok9 cab trò chơi casino phổ biến. Đọc thơ Tú Xương người ta thấy tất yếu cần một sự thay đổi lớn. Nhiều người yêu, mê, thuộc rồi truyền khẩu thơ Tú Xương có lẽ phần lớn cũng vì ở điểm này.

Sống trong bóng đêm Ok9 cab trò chơi casino phổ biến “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn” nên Tú Xương muốn phơi bày ra ánh sáng tất cả những gì trái tai gai mắt cần phải thay đổi. Điều này quy định thơ ông dễ hiểu, giản dị, ít điển tích, điển cổ. Nên nói thơ ông sâu sắc (như có nhận định) là có phần khiên cưỡng nhưng nói thơ ông quyết liệt thậm chí ác liệt là có cơ sở. Ông là người duy nhất của làng trào phúng Việt trong thời đại mình xứng đáng với tên gọi người kể chuyện cười bằng thơ. Mỗi bài thơ của ông như một mảnh ghép để ghép lại thành bức tranh trào phúng về lịch sử.

Tú Xương trước hết là nhà phóng sự điều tra về những gì tiêu cực, lố lăng, xấu xí của Ok9 cab trò chơi casino phổ biến… Vì sự đi lại trong thực tế cuộc sống thời ấy không thuận tiện, với ông cũng không thật sự cần thiết nên “phương tiện” điều tra chủ yếu là bộ phận “thính giác” nhạy bén và nhạy cảm. Cho nên ta hiểu vì sao động từ “nghe” xuất hiện rất nhiều lần trong thơ ông: “Nghe văn mà gớm cho ông mãi” (Ông Tiến sĩ mới); “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai” (Sông lấp); “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau…/ Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang” (Năm mới chúc nhau); “Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba” (Chợt giấc); “Nghe nói miền Nam trời đại hạn” (Lụt năm Bính Ngọ);… Nhân vật cũng nghe: “Nghe tin cụ cố cười ha hả…/ Nghe tin bà cố cười khì khì” (Ông Cử thứ năm);…

Nhà thơ “nghe” thấy tiếng nói của các nhân vật nói với nhau nên động từ “bảo”, “nhắn” có rất nhiều: “Ta thấy người ta vẫn bảo rằng/ Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng” (Gái góa nhà giàu); “Tôi thấy người ta có bảo rằng” (Chị Hằng thằng Cuội); “Khéo bảo nhau rằng: mới với me” (Năm mới); “Ai về nhắn bảo đàn em nhé” (Lấy lẽ); “Ai về nhắn bảo việc này cho/ Nhắn bảo ai rằng việc nhỡ to” (Mẹ vợ với chàng rể); “Ông lão nhà quê tang tảng dậy/ Bảo con đan đó chớ đan gầu” (Mưa tháng bảy);…

Tú Xương - những “cái lạ đời”! -0
Hình ảnh bát nháo, hỗn loạn thời Tú Xương sống!

Ở thời buổi toàn cầu hóa này nhưng trong giáo trình giảng dạy của nhiều trường OK9 thể thao xanh chín hiện đại ở một số nước tiên tiến vẫn coi “hỏi” là phương pháp điều tra cơ bản, vì thông dụng, tiện lợi, nhanh gọn và hiệu quả. Hẳn nhiên trong thơ Tú Xương có rất nhiều câu hỏi, có cả những câu hỏi tu từ nhưng phần nhiều là những câu hỏi mang tính “điều tra”, hỏi để làm rõ thông tin góp phần vạch ra sự thật của sự kiện: “Học trò chúng nó tội gì thế?/ Để đến cho ông vớ được đầu” (Chế ông Đốc học); “Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?” (Chế ông Huyện); “Hàn lâm tu soạn kém gì ai?” (Đùa ông Hàn); “Hỏi lão đâu ta? Lão ở Liêm/…Xuân thu ướm hỏi đà bao tá?” (Già chơi trống bỏi); “Thọ kia mày có biết hay chăng?” (Để vợ chơi nhăng); “Cô Ký kia sao mà chết ngay?” (Mồng Hai Tết viếng cô Ký); “Ông Cử thứ năm con cái ai?/…Thứ năm ông Cử ai làm nổi?” (Ông Cử thứ năm); “Này này hương thí đỗ năm nào?” (Thi phúc);

Lại có khi hỏi cả mình: “Trải mấy mươi năm vẫn thế ru?/ Rằng khôn? Rằng dại? Lại rằng ngu?” (Hỏi mình); Thậm chí hỏi trời: “Ta lên ta hỏi ông trời/ Trời sinh ta ở trên đời biết chi?” (Hỏi ông trời); “Bắc thang lên hỏi ông cầm sổ?” (Khóc anh rể và chị). Hỏi trăng: “Ta lên ta hỏi ông trăng/ Họa là ông có biết chăng sự đời?” (Hỏi ông trăng); “Nước đã mấy con, con nước lớn?/ Trăng bao nhiêu tuổi, tuổi trăng già?” (Hỏi trăng, hỏi nước). Hỏi thời gian, thời thế: “Xuân ơi, ta hỏi xuân xem nhé/ Quả đất còn bao độ chuyển vần?” (Hỏi xuân). Hỏi “trong ấy” (tức Kinh đô Huế): “Dám hỏi những ai nơi cố quận/ Rằng xuân, xuân mãi thế ru mà?” (Xuân). Hỏi “đất”: “Có đất nào như đất ấy không?” (Đất Vị Hoàng). Có cả những lời “hỏi thăm”: “Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà” (Ông Ấm Điền); “Hỏi thăm quê quán nơi mô?/ Không học mà sao cũng gọi đồ?” (Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt);…

Là nhà “điều tra” nên ông nhận thấy sớm hơn tất cả về một trạng thái “ngược đời”, “lạ đời” của Ok9 cab trò chơi casino phổ biến. Thương đời “Những là thương cả cho đời bạc” (Hỏi mình) nhưng càng buồn thêm vì bất lực, vì không thể làm sao thay đổi được trạng thái phong hóa đồi bại đang ngày một thê thảm. Vì thế thơ ông ngập tràn nỗi buồn, ngoài nỗi “buồn thi hỏng” (tên một bài thơ): “Bụng buồn còn muốn nói năng chi/ Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”, còn là buồn nhân thế và thời thế: “Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn” (“Hát tuồng”); “Sao đang vui vẻ ra buồn bã” (Nhớ bạn phương trời).

Và rất nhiều tâm trạng “ngán”, “chán”: “Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế” (Phường nhơ), “Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng” (Mùa nực mặc áo bông); “ngao ngán, ngẩn ngơ”: “Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao” (Cái nợ); “Vì ai lận đận cho mình ngẩn ngơ” (Áo bông che bạn). Cũng rất nhiều trạng thái “tiếc”: “Nào ai có tiếc ai đâu?” (Áo bông che bạn), “Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng” (Chiêm bao)… Có một chủ đề “hoài cổ” (cũng là sự luyến tiếc) trong thơ Tú Xương mà bài “Sông lấp” là rất tiêu biểu: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”…

Bi kịch thời đại và bi kịch cá nhân dồn tụ, nén chặt vào tâm hồn con người thi nhân nên thơ Tú Xương đầy sự bức bối: “Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông” (từ góc nhìn này cho thấy câu thơ mang nghĩa bóng hơn là nghĩa thực). Đầy bóng đêm: “Đêm sao đêm mãi thế ru mà?” (Đêm dài), “Kìa cái đêm nay mới gọi đêm” (Dạ hoài)… Có thể viết một tiểu luận nghiên cứu dài về hình tượng bóng đêm này. Còn đầy sự “bối rối”: “Bối rối tình duyên cơn gió thoảng” (Đêm hè). Cũng đầy sự trăn trở vật vã: “Nào ai là kẻ tìm ta đó/ Đốt đuốc mà soi kẻo lẫn nhà?” (Đêm dài); … Bi kịch vẫn là bi kịch. Bóng đêm vẫn “dài”. Bế tắc. Nên cũng dễ hiểu có lúc đau mắt mà ông lại muốn mù hẳn: “Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ/ Giương mắt làm chi buổi bạc tình!?” (Đau mắt)…

Những sự ngược đời ấy đã nói thay cái khát khao lớn nhất ở Tú Xương là mong muốn đòi một sự thay đổi Ok9 cab trò chơi casino phổ biến để con người được sống “cho ra cái giống người”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.