“Tự thanh”, lời trong của một người quê

Với hai chữ “Tự thanh”, nhà thơ Hải Thanh đã xuất bản đến 4 tập thơ, gần nhất là “Tự thanh 4”, ra mắt vào cuối năm 2023 (NXB Hội Nhà văn). Cái tên thi tập nghe là lạ. Tôi gọi điện thắc mắc thì nhà thơ người Vĩnh Phúc, đương nhiệm Chủ tịch Hội Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tỉnh Vĩnh Phúc chỉ cười mà rằng: muốn hiểu thế nào cũng được.

  • Ra mắt tập thơ “Viễn ca” của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Tiến Thanh
  • Ra mắt tập thơ “Hoa đời mùa sau” của nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh

“Tự thanh” là tự mình cất lên âm thanh/tiếng kêu/tiếng nói của mình hoặc tự mình làm trong sạch mình, đều không sai. Nghe giải thích vậy, nhưng cá nhân tôi lại muốn nghiêng về một cách hiểu gộp: “thanh” là tiếng nói, tiếng kêu, mà “thanh” cũng là trong, nên “Tự thanh” là tiếng kêu trong, lời trong. Và, ở đây, như tập thơ “Tự thanh 4” mà tôi đã đọc, đó là lời trong của một người đang ở quê mà vẫn thiết tha, đau đớn buồn mỗi khi lặng ngắm quê, nhớ và nghĩ về quê, quê cụ thể và quê như một ý niệm.

hai-thanh-vanvn.jpg -0
Nhà thơ Hải Thanh.

Trong tập “Tự thanh 4” có một bài thơ mang nhan đề “Tôi là một người quê”, với đoạn mở đầu: “Tôi là một người quê/ Thì khi nào đã tỉnh?/ Tôi chỉ hỏi một câu này/ Nhỏ nhẹ/ Một câu thôi/ Kẻ thù nào đã bắn vào làng tôi?/ Đá vô tri cũng còn đầy nước mắt”. Chưa vội bàn hay dở, nhưng ở đoạn thơ mở đầu này có một điều thú vị: cái chữ “quê” đối nghĩa với chữ “tỉnh”, mà nếu thay nó bằng chữ “say” thì có khi còn hay hơn: “Tôi là một người say/ Thì khi nào đã tỉnh?/ Tôi chỉ hỏi một câu này...”. Nhưng, dẫu thế nào, “quê” hay “say” thì cũng vẫn cứ một niềm đau đáu: “Làng tôi bao phen tan nát/ Hạnh phúc nào/ Thiên đường nào/ Vẫn xương thịt quê hương?/ Những giấc mơ hãy còn rỉ máu/ Không có chuyện người nông dân sớm mai ra ngõ bắt được vàng/ Nên cả đời tôi mê mải kiếm tiền/ Nhiều tiền quá lòng tham không dừng lại”.

Người quê có thể ra tỉnh thành OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á, làm ăn, lập nghiệp và gửi nhớ thương về chốn quê. Điều ấy đã từng là thực tế khá phổ biến, cả trong đời và trong thơ, mà ví dụ sáng giá nhất chính là một phần lớn tác phẩm trong gia tài thơ Nguyễn Bính. Nhưng, người quê trong tập “Tự thanh 4” của nhà thơ Hải Thanh, nhắc lại lần nữa, là một người đang ở quê. Đang ở quê mà vẫn buồn nhớ về quê, nói đúng hơn, buồn nhớ về cái không gian làng của mình, trong quá khứ, trong hiện tại, trong tâm tưởng và trong thực cảnh nhãn tiền. Người quê ấy, chủ thể trữ tình xưng Tôi, nhân vật xuyên suốt toàn bộ tập thơ tựa như một miếng bọt biển, hút thấm vào mình mọi biến động đã và đang xảy ra trong OK9giaitri đăng nhập của làng quê.

Thời mới, OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao thị trường và hội nhập, công nghệ 4.0, đất ruộng chuyển đổi mục đích sử dụng, phân lô bán nền hoặc được tách ra OK9 đã banh các khu chế xuất, bê tông hóa đến từng ngóc ngách đường làng ngõ xóm, rồi người ở lại và người rời làng làm ăn nơi khác v.v... - những điều này ta hoàn toàn có thể hình dung được - thì “chất làng” đương nhiên phải nhạt đi. Tất cả những thay đổi khiến cái “chất làng” phải nhạt đi ấy đã vào thơ Hải Thanh, nhiều khi như một nhận thức đầy những ngỡ ngàng:

Năm nay trời đã sang trang/ Nước mưa đã nhạt, đất làng đã phai/ Hoa hồng mới nở sớm mai/ Lòng người đã nảy chông gai lạnh lùng” (Làng mới). Rồi: “Bóng hạc nghiêng chao thấp thoáng/ Nói những gì nơi quán lẩu dưới trời khuya/ Nụ cười trong này, nước mắt ngoài kia/ Ăn miếng cá thấy dòng sông chảy máu” (Ăn cơm với cá). Và rồi: “Những cuộc mưu sinh nườm nượp bước chân người/ Ở chốn phồn hoa nhiều mây nõn/ Ai tơ tưởng những mùa vui bất tận/ Ai nỗi niềm hàn gắn sự chia tan... Người đi rỗng làng/ Người về loãng phố/ Câu ca mới, bài hát cũ/ Người bỏ cánh đồng, quê ở với ai?” (Vân vi mùa dịch).

Nhưng, chưa hết đâu, cái sự thay đổi làm phai đi “chất làng” nhiều nhất mà chủ thể trữ tình xưng Tôi trong “Tự thanh 4” nhận thấy còn nằm ở những câu thơ xót xa này: “Mẹ ơi, chiều qua có con cò bay từ Đồng Đậu/ Mang lời ru gieo xuống cánh đồng/ Mẹ ơi, chiều nay có thêm con cò bằng bê tông dang cánh/ Giữa thửa ruộng nhà mình/ Nhưng nó chỉ đứng yên một chỗ/ Gió rất nhiều/ Nhưng không thể bay lên... Trong tầm tã đầy vơi/ Vẫn liêu xiêu dáng mẹ/ Mẹ bơ vơ trên thửa ruộng nhà mình/ Thửa ruộng bơ vơ trên cánh đồng làng mình/ Mẹ và những thân cò như mất tổ/ Ngoài kia/ Cửa làng rộng mở/ Người làng cứ lũ lượt ra đi/ Tháng tháng năm năm/ Khói trắng lại bay về/ Con cò không có bờ tre/ Nó bơ vơ tiếng mẹ” (Cánh cò chiều).

Ta thấy gì đây? Bê tông hóa nhân danh sự phát triển, thuốc bảo vệ thực vật nhân danh sự tăng trưởng, bỏ cánh đồng và việc nông trang nhân danh cuộc mưu sinh khắc nghiệt đã khiến bầu sinh quyển tự nhiên vốn dĩ của không gian làng bị tổn hại nghiêm trọng. Làng không còn là làng như nguyên bản nghìn năm nữa. Còn chăng, như một thứ gia tài được di truyền, chính là nỗi vất vả cực nhọc, là cái “phận đàn bà” đến lắm éo le của những người phụ nữ ở làng.

Người quê trong thơ Hải Thanh kể: “Đàn bà làng tôi/ Nhàu như câu chuyện cũ/ Những nỗi niềm chưa rõ họ tên/ Gửi vào lời ru đỡ lạnh/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần... Lấp lóa tháng ngày xanh/ Những người đàn bà của làng khăn gói ra đi/ Vội vàng như trốn vã/ Sau buốt giá/ Những đồng tiền sấp ngửa/ Có những đứa con mang họ mẹ/ Những xa xôi không hẹn ngày về” (Nỗi niềm hạt thóc).

Tuy nhiên, không phải bao giờ lời trong của người quê trong thơ Hải Thanh cũng toàn những buồn đau rưng rức đến thế, như thế. Nhiều khi nó chỉ là một nỗi buồn thoảng nhẹ, một niềm u hoài xao xuyến của kẻ lắm tơ vương với chốn xưa, cõi xưa, với trời trăng mây nước: “Ngơ ngẩn đường dâu về bãi mía/ Ai người trông lại nỗi mong ai/ Nghe đâu ồn ã ngày đương chợ/ Bông lúa lưng còng buổi sớm mai/ Miếu văn thuở ấy giờ đâu nhỉ/ Thành cổ u hoài theo gió mưa/ Phố đã chen chân vào mộng mị/ Một ánh trăng non lạc đáy hồ” (Chiều phủ Vĩnh). Và nữa: “Nhà máy dập dìu, sông Cánh còn tươi/ Đất Hương Canh mùa này như thiếu nước/ Những lò gốm từ lâu thôi rạo rực/ Bước người đi xa lắc đã ai về?/ Trên chuyến tàu thế kỷ cuối rặng tre/ Ga Hương Canh vẫn là ga thuở trước/ Lấp lóa những con đường thân thuộc/ Có ai buồn mua vại giữa đêm mưa?” (Ký ức ga Hương Canh).

Có thể nói, những địa danh trên đất cổ Vĩnh Phúc như phủ Vĩnh, Vĩnh Yên, Kim Long, ga Hương Canh, núi Đinh v.v... khi vào thơ Hải Thanh thì đều không chỉ là những địa danh đơn thuần, mà chúng đã là những cái tên, những ký hiệu chuyên chở âm vọng và hình ảnh dày dặn của quá vãng, chúng đặt ngày xưa với ngày nay vào một sự tương liên đủ để làm bật ra những câu thơ giàu sức gợi. Với cá nhân tôi, những câu như: “Phố đã chen chân vào mộng mị/ Một ánh trăng non lạc đáy hồ”, “Ngoài kia trăng vỡ như trêu chọc/ Gió thoảng qua cây lại ướt thềm”, hay: “Lấp lóa những con đường thân thuộc/ Có ai buồn mua vại giữa đêm mưa”, là những câu thơ như thế.

tác ph%3fm c%3fa nhà tho h%3fi thanh.jpg -1
Tác phẩm của nhà thơ Hải Thanh.

Nhà thơ Hải Thanh từng bộc bạch: “Suốt năm tháng dài, tôi cũng chỉ quẩn quanh ở làng. Trong không gian nhỏ hẹp ấy tôi luôn tự nhủ: đi đến tận cùng của làng này sẽ bước sang làng khác”. Nếu ta nhớ rằng ở các OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á nghiên cứu có tính chất kinh điển về làng xã và văn hóa làng xã Việt Nam của các học giả bậc thầy như Từ Chi, Nguyễn Hồng Phong, Phan Ngọc, Trần Đình Hượu v.v... thì làng chính là cái lõi của nước/quốc gia. Nước Việt Nam trong quá khứ chẳng qua là một tập hợp khổng lồ của những cái làng, những cái làng nối những cái làng.

Nên khi Hải Thanh nói ông đi đến tận cùng làng này để bước sang làng khác thì tức là cái kiến văn và sự tri nhận ấy đã đặt trong không gian của nước. Và, người quê trong thơ Hải Thanh đã tư duy về những vấn đề vượt quá tầm hạn hẹp của cái làng mình. Đây có lẽ chính là cơ sở để Hải Thanh có những câu, những bài thơ tưởng như “lạc quẻ” trong tập “Tự thanh 4”: “Những người mẹ của ta ơi/ Ai gọi đới?/ Người cười rạng như có ai nhớ đến mình/ Không nghe gì bão tố, không thấm gì lầm than/ Không kể chi bần hàn, không ngại gì đánh giặc/ Cứ cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng nhiều thất bát/ Rồi, đội một mái đầu bạc/ Sống một miền cô đơn/ Người chỉ tự nhận mình/ Có đẻ ra người thật/ Nhưng tuyền là vong thân” (Những người mẹ).

Thơ Hải Thanh, có thể thấy qua tập “Tự thanh 4”, chưa phải thơ nghiêng về tìm kiếm những con đường độc đạo của sự cách tân, nhưng cũng không còn là thơ với tư cách sản phẩm của kiểu tư duy thơ truyền thống, cũ mòn. Dẫu sao chăng nữa, điểm khả thủ của thơ Hải Thanh không phải chỗ cũ hay mới, mà ở chỗ: nó là tiếng trong - chân thành và có tính khái quát, triết lý cao; buồn bã mà đôi khi vẫn thấp thoáng nét “uy-mua” - của một người quê về làng mình, về nước mình, về OK9giaitri đăng nhập đương đại và những xoay vần không ngưng nghỉ của thời cuộc. Thơ của một người biết và cảm nhận rất bình thản những điều đang đợi tất cả chúng ta ở phía chân trời: “Đi thăm những nấm mộ/ Mới biết mình đang sống/ Hỏi: chúng tôi đang sống như thế nào?/ Những ngôi mộ đều trả lời: đang chết” (Thời đại).

Hoài Nam

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.