Tứ nữ họ Đoàn

“Thi phẩm tứ nữ họ Đoàn” là tập thơ đặt bốn nhà thơ nữ cùng họ trong một không gian đối thoại hiếm gặp: Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu.

  • Hai thi phẩm, một thú chơi xưa
  • Bài thơ hay về một mùa lại chứa đựng cả bốn mùa

Điểm hấp dẫn của tuyển tập không nằm ở “cùng họ” như một tình cờ tiểu sử, mà nằm ở sự khác biệt thế hệ, khác biệt giọng nói Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, và nhất là ở cách bốn tác giả cùng “đi qua” những miền chủ đề quen thuộc của thơ nữ Việt Nam đương đại như: tình yêu – thân phận – gia đình – ký ức – Hà Nội và sự cô đơn.

Từ nhịp điệu thơ đô thị với nhiều ẩn dụ

Trong tuyển tập này, nhà thơ Đoàn Ngọc Thu hiện lên như một người viết của đô thị và thời cuộc, nhưng vẫn mang cái lõi muôn thuở của tình yêu và cô đơn. Những bài như “Bão cảm”, “Sau bão”, “Người đàn bà uống rượu dưới trăng”, “Hà Nội hoài ức”, “Đêm Hà Nội mùa đông COVID”… mở ra một bối cảnh thời đại rõ hơn: thơ không đứng ngoài những biến cố của OK9giaitri đăng nhập Ok9 cab trò chơi casino phổ biến.

1035698898580617683.jpg -0
Tứ nữ họ Đoàn: Luyến, Thu, Tảo, Ký trong chương trình gặp gỡ ra mắt sách.

Với Ngọc Thu, thơ đô thị hậu hiện đại của nỗi buồn lộng lẫy, ngôn từ giàu chất tạo hình, nhịp thơ như dòng ý thức như bài “Màu của hạnh phúc” dưới đây: “Khuấy buổi chiều trong đáy tách caphe/ Đếm giọt/ biết bao đắng để nêm đường đủ ngọt?/ Giữa ồn ào phố xá ngoài kia/ Đâu thanh âm muốn được nghe?/ Điều bình dị, một ngày bỗng thành xa xỉ/ nếu ước nguyện có thể thành sự thực/ ngàn mong muốn tựu gom chỉ một/ Chẳng cần tỏ tường, cũng thưa thốt…/ nào ai biết Hạnh phúc có màu gì/ Sớm nay pha sương vào nắng/ nụ cười con tràn trên toan”.

Nỗi buồn trong thơ Đoàn Ngọc Thu mang trường mỹ cảm của cái đẹp, đó là nỗi buồn được trang trí bằng ánh sáng, mùi hương, màu sắc, không gian. Đặc biệt, hình tượng “bão” xuất hiện như một ẩn dụ tâm lý, bão là cơn ghen, bão là bất lực và cuồng nộ của cơ thể tinh thần đàn bà. Và “sau bão” là hoang tàn không thể phục nguyên như một tuyên ngôn.

Đoàn Ngọc Thu thiên về thơ tự do mang hơi hướng dòng ý thức. Câu thơ của chị thường dài, xô nhau, có sức đẩy của một dòng tâm trạng. Chị hay tăng cường cảm giác dồn dập trong mô tả, và dùng cách ngắt nhịp để tạo khoảng trống, khiến người đọc nghe được độ ngân rơi của cảm xúc. Với những đoạn xuống dòng bất ngờ, những cụm từ chẻ nhỏ… tạo cảm giác thơ như một thước phim khi camera lúc cận cảnh, lúc toàn cảnh. Đây là kiểu thi pháp phù hợp với một tâm thế hiện đại sống trong nhiều lớp thông tin, nhiều tốc độ cảm xúc, nhiều biến cố liên tiếp.

Nếu Đoàn Thị Tảo tối giản và sắc lạnh, thì Đoàn Ngọc Thu lại giàu tính vật chất, chữ của chị có mùi, có độ ẩm, có tiếng động. “Bão” không chỉ là một ý niệm, nó là một thân thể: nóng, bốc hỏa, thở dốc, ngồi bệt, rồi lại quay về “dữ dằn hơn”. Cách nhân hóa này khiến thơ Đoàn Ngọc Thu có sức sống mạnh với cảm xúc không trừu tượng mà có hình hài.

Ngôn từ Đoàn Ngọc Thu vì vậy thường hướng đến tính tạo hình và tính cảm giác để người đọc không chỉ hiểu mà còn “thấy” và “chạm” được. Đây là một lựa chọn thẩm mỹ rõ ràng của thơ đô thị đương đại, biến trạng thái tâm lý thành phong cảnh, biến phong cảnh thành tâm lý.

Đoàn Ngọc Thu là giọng thơ hiện đại của nỗi buồn, nơi cảm xúc được viết như một cảnh giới Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 u tối nhưng vẫn đẹp, đậm chất thơ tự do, câu có thể dài, tràn, giàu liệt kê và nhịp “trôi” như dòng ý thức, thơ tổ chức diễn ngôn gần “phim”: nhiều cảnh, nhiều lớp cảm giác, tạo dựng không gian đô thị và thời đại và thơ có xu hướng mở hơn là đóng ở một kết luận rõ ràng.

Trong khi đó nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã làm chủ mạch thơ của bản năng yêu và thân phận đàn bà với những ẩn dụ mạnh, tứ thơ kịch tính, ngôn từ vừa dân gian vừa hiện đại. Trong thế giới nội tâm của thơ chị, ta thấy tình yêu như bão lũ, và đời đàn bà như một cuộc cược Đoàn Thị Lam Luyến là giọng thơ “có lửa”. Chủ đề tình yêu trong thơ chị thường không mang vẻ lãng mạn nhẹ nhàng, mà mang chất bạo liệt, cực đoan, dấn thân: yêu như cháy rừng, như lũ sông Hồng, như cơn khát trái cấm.

Tình yêu trong thơ Lam Luyến không chỉ là cảm xúc, nó là số phận, là nơi người đàn bà đối mặt với thua – được, đúng – sai, danh dự – tổn thương. Điều này liên kết trực tiếp với một mạch chủ đề khác là thân phận đàn bà. Đây là tiếng nói vừa tự thương, vừa tự ý thức khi chị không ngây thơ trước đời, nhưng vẫn “dại yêu” như một lựa chọn bản năng. Thi pháp của Lam Luyến là thơ tự do đan cùng nhịp dân gian, kết hợp giữa đối thoại, kêu gọi và độc thoại.

Những ấn tượng này thấy rõ trong bài thơ “Em gái”: "Em đầy ngộ nhận như tôi/ Cũng yêu chí chết cái người mình yêu/ Cũng tìm những lối phong rêu/ Để rồi bước trật, bước trèo - uổng công/ Mắt thì thăm thẳm mùa đông/ trái tim mùa hạ, tấm lòng mùa thu/ Mùa xuân ở phía xa mù/ Mà băng giá... biết bao giờ cho tan!/ Gặp cơ nhỡ em cưu mang/ Em đâu tính đến lỡ làng về sau/ Em đương lấy sóng làm cầu/ Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền/ Lấy mất mát để làm yên/ Đem duyên làm phúc, lấy tiền làm khinh/ Rồi ra em giống chị mình/ Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui!”.

Lam Luyến di chuyển linh hoạt giữa thể tự do và nhịp truyền thống, nhịp điệu lại gần ca dao, như lời mẹ truyền đời. Ngoài ra, thơ chị hay dùng cấu trúc đối thoại. Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 ngôn từ của Lam Luyến là ẩn dụ cực mạnh với trường từ vựng lửa, bão, biển và sự táo bạo của khẩu khí.

Ngôn từ của Lam Luyến có hai mặt đồng thời, một mặt dân gian, đời thường, giàu thành ngữ, giàu nhịp nói, gần lời ăn tiếng nói. Một mặt hiện đại, táo bạo, dám đẩy cảm xúc lên tận cùng, dám gọi tên tổn thương, dám phơi cấu trúc bất công trong tình yêu, thơ chị kéo người đọc vào một cuộc xoáy, vừa mê vừa đau, vừa muốn quay đi vừa bị giữ lại.

Đến dòng thơ tự vấn của tình yêu cô đơn

Trong tập này, thơ của Đoàn Thị Tảo là thơ của tự vấn và vùng tối thân phận với ngôn từ tối giản, ám ảnh, giàu nhịp nội tâm. Thế giới nội dung của thơ chị là những cô đơn, định mệnh, những đổ vỡ không ồn ào. Đoàn Thị Tảo xuất hiện trong tuyển tập với một khí quyển buồn sâu, buồn nén. Nhân vật trữ tình thường đứng ở thế độc hành, nhìn đời như một chuỗi thiếu hụt thiếu may mắn, thiếu bình yên.

Trong bài thơ “Năm tôi chào đời 1945-Ất Dậu” chị viết những dòng đau đớn: “Trời đảo điên đói/ Đất đảo điên khát/ Hai triệu người chết/ Đâu đó... những đứa trẻ như tôi ra đời./ thèm ăn từ trong bụng mẹ/ ngoác cái miệng nhăn nheo khát sữa/ những giọt sữa hiếm hoi chắt từ rau, khoai, cám, cháo./ Đói Ất Dậu/ bàng hoàng cả trăm năm sau/ năm tôi chào đời/ thiếu đói cọc còi thành xương/ bầu trời tắt lịm một ngôi sao xấu/ Vất vưởng thành người”.

4540315269281162756.jpg -1
Tập thơ “Thi phẩm tứ nữ họ Đoàn”.

Nỗi buồn trong thơ chị là nỗi buồn của kiếp người mang định mệnh, nỗi buồn của người nhìn thấy sự bất toàn của mình và của đời. Về hình thức, Đoàn Thị Tảo sử dụng nhiều thơ tự do, câu ngắn – dài linh hoạt, nhiều đoạn gần như lời độc thoại. Tuy nhiên, điều làm nên nhịp điệu đặc trưng lại là kỹ thuật lặp và điệp cấu trúc. Đặc biệt, thơ chị có xu hướng cắt câu để tạo khoảng trống là nơi để cảm xúc “rơi xuống”, nơi người đọc tự nghe tiếng thở dài. Bởi vậy, đọc thơ Tảo thường có cảm giác đang bước vào một căn phòng vắng ít đồ đạc nhưng vang tiếng nội tâm.

Nếu Đoàn Thị Tảo nghiêng về bi kịch nội tâm, thì Đoàn Thị Ký lại tạo ra một không gian ấm áp trong thơ gắn với người thân, với bạn bè, làng quê và Hà Nội. Thơ chị không phủ nhận nỗi buồn, nhưng nỗi buồn ấy thường được chưng cất thành tình nghĩa, thành sức bền tinh thần.

Đoàn Thị Ký sử dụng nhiều nhịp dân gian, nhất là những đoạn mang hơi lục bát, hoặc ít nhất là nhịp câu có tính hát nói mà bài thơ “Cây rơm” là một ví dụ: “Cây rơm con dấu của làng/ thanh thiên bạch nhật mùa màng uy nghi,/ Chân trời góc biển mùa đi/ Cọng rơm ở lại ôm ghì đất đai,/ Ghì như con gái, con trai/ Cái đêm hoa lý, hoa mai hồng trần/ Đời người nặng nhẹ đồng cân/ nghiêng nghiêng bồ lúa cù lần vãi gieo/ người đời có lúc trả treo/ Rơm vàng chân chỉ cù lèo, ngân nga/ Con trâu nhai lại, ổ gà…./ Rút rơm tay mẹ chia quà lới lơ”.

Điểm nổi bật của Đoàn Thị Ký là khả năng tạo duyên bằng ngôn ngữ. Giọng thơ Đoàn Thị Ký là giọng của một người đàn bà từng trải, ngôn từ thường hướng đến độ mềm, độ ôm của tiếng Việt nói sao để người đọc thấy mình được chạm vào kỷ niệm, chạm vào bếp lửa, chạm vào mùi quê.

Bốn tác giả, bốn cách đi qua tình yêu và cô đơn. Và nhờ thế, tuyển tập không chỉ là “hội ngộ họ tộc”, mà là một bản hòa tấu của bốn giọng nữ, nơi tiếng Việt được kéo căng trên nhiều cung bậc, có lúc chỉ là tiếng thở dài, có lúc là tiếng ru, có lúc là tiếng gào của bão, có lúc là ánh trăng soi xuống ly rượu.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.