Trong, đục ao làng...

Hình tượng cái ao ăn sâu vào tâm thức người Việt đến mức hầu như ai cũng thuộc và hiểu câu ca dao: “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Không biết có tự bao giờ, chắc rất lâu rồi, nhưng ở ngày toàn cầu hóa hôm nay người ta vẫn thường đọc để nói cái ý về quê mà sống, mà làm ăn, dù nghèo, dù thiếu thốn… “vẫn hơn”.

  • Giấc mơ trôi phía vạn đò

Ai cũng hiểu cái tâm lý cục bộ, địa phương chủ nghĩa, cho quê mình, làng mình là nhất trong câu ca ấy không hợp với thời nay. Nhưng dù có “hiện đại” đến đâu, “tâm lý làng xã” vẫn cứ neo trong cõi lòng, để rồi có lúc bật ra “Ta về ta tắm ao ta…”. Ngày nay “ao làng” trở thành một ẩn dụ quen thuộc chỉ những việc gì quanh quẩn, hạn chế, thiếu tầm chiến lược.

Trong, đục ao làng... -0
Ao quê.

Ngày xưa cái ao quen thuộc với hầu hết mọi người dân. Vì để làm nhà thì phải “đào ao vượt thổ”, thế là không gian quen thuộc của một hộ gia đình là vào ngõ đến sân, tiếp đến là nhà, sau nhà là mảnh đất nhỏ rồi đến cái ao. Tùy đất rộng hẹp mà ao to nhỏ. Ao để nuôi cá, mặt nước thả bè rau muống, một khoang nuôi bèo dành cho lợn. Ao là chỗ giặt giũ, là nơi chứa nước mưa… Bờ ao thường trồng cây nhãn, cây sung, cây chanh, bụi chuối… vừa để tránh bờ lở lói vừa không phải tưới cây. Những trưa hè oi ả đem chõng hoặc mắc võng hóng mát ở bờ ao thì sung sướng hơn nhiều ngồi phòng máy lạnh thời nay. Rất có thể nhiều thi nhân đồng quê thai nghén tác phẩm từ bờ ao thi vị này. Còn bọn trẻ thì đánh trận giả, rồi trèo lên cây nhảy tùm xuống ao… Đứa thì ngồi câu. Đứa đi bắt chuồn chuồn. Cả một thế giới trẻ thơ hồn nhiên tươi tắn gắn với bờ ao.

Chắc nhiều người tuổi trung niên trở lên nhớ mãi kỷ niệm khi những cơn mưa rào đang cỡ dữ thì đám trẻ con cởi trần chui rào vào “mai phục” ở bờ ao nhà nào nuôi nhiều cá nhất. Những con cá rô to bằng bàn tay, chắc lẳn vàng ươm hoặc đen chũi ngoi lên bờ đón mưa… Đầu tiên thường là con rô đực thân dài ngóc đầu, ưỡn thân, giương vây rạch nước lên trước, lúc sau, thấy êm, đàn rô mới lên theo. Đứa nào có kinh nghiệm thì để cả đàn lên rồi mới lao ra bắt từng con… Thú vị vô cùng! Quên hết mưa gió. Chỉ bừng tỉnh khi chủ nhà bắt quả tang… Thế là chui rào chạy, có khi quên cả giỏ cá rô… Thật tiếc, những cảnh này đã đi vào cổ tích… Bây giờ, ao bị lấp để làm nhà…

Đi vào ca dao, bờ ao trở thành một không gian tâm trạng đa nghĩa, như gợi về sự tiêu điều, nghèo nàn, khuất lấp: “Cam sành rã rượi bờ ao/ Tưởng không rào anh hái, có rào thì thôi”. Câu ca dao có phần chua chát này khó hiểu. Tại sao lại ví cô gái là “cam sành”, đã thế còn “rã rượi” xấu mã cả cây cả quả? Cô có “người” rồi thì thôi, còn chưa, thì “anh hái”. Cái “mã” để mở phải chăng ở hai chữ “rã rượi”: cô ấy nhà nghèo, xấu xí, quá lứa lỡ thì…(!?). Bờ ao là không gian mong ước: “Chiều chiều ra đứng bờ ao/ Nước kia không khát, khát khao duyên chàng”. Phần nhiều để chỉ không gian bình dân, mộc mạc có tác dụng làm “nền” để bật ra hình tượng người con gái xinh xắn, dịu dàng: “Hỏi đâu trúc mọc bờ ao/ Ai xinh, ai đứng nơi nào cũng xinh”. Hoặc: “Trúc xinh trúc đứng bờ ao/ Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh”.

Lại là một quan niệm mỹ học: cái đẹp không phụ thuộc vào không gian nơi “giữa xóm đầu làng” hay nơi lầu son gác tía mà ở trong bản chất, đã đẹp thì đứng “bờ ao gốc dứa” cũng đẹp. Đúng quá. Cái đúng này chắc được nhiều người thừa nhận nên còn được nâng lên thành bài hát Quan họ chơi vơi luyến láy: “Cây (i) trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc/ Qua (i) lối nọ (i) như bờ ao/ Chị Hai xinh tang tình là chị Hai đứng/ Đứng nơi nào qua lối như cũng xinh…”.

Cái ao chân quê đến mức rất ít khi được “thiêng hóa” trong văn chương. Ngay trong “Thánh Gióng” - một trong những thần thoại hay nhất, thì cái ao được lý giải là do vết chân ngựa của chàng Gióng mà thành. Chàng Gióng lớn nhanh như thổi, ăn “bảy nong cơm, ba nong cà, uống cạn đà khúc sông”. Chàng vươn vai thành Phù Đổng nhảy lên ngựa phi ra trận tiền. Ngựa sắt phun lửa. Chàng Gióng nhổ tre đuổi giặc… Thế là từ đó những cái ao được hình thành theo dấu chân ngựa của chàng Gióng vĩ đại! Gióng và ngựa thì bay lên trời để thành người trời. Còn những cái ao thì mãi mãi ở dưới mặt đất, gần gũi, bình lặng cùng người nông dân “một nắng hai sương” lam lũ, tảo tần.

Trong văn học viết, một trong những người viết sớm về hình tượng ao là Chu Văn An, trong bài “Miết trì”: “Trăng nước bên cầu đùa giỡn bóng chiều hôm/ Hoa sen, lá sen, yên lặng tựa nhau/ Cá bơi ao cổ, rồng ở chốn nào/ Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về”. “Miết trì” nghĩa đen là ao ba-ba, cũng là tên một chiếc ao trong dãy núi Phượng Hoàng (nơi Chu về ẩn, thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương). Có thể hiểu “ao” là hình ảnh ẩn dụ chỉ thời thế, cá đua nhau bơi trên mặt ao, tức bọn tiểu nhân đang đắc ý. Không thấy rồng ở đâu hay vua đi vắng (hay làm bù nhìn). Núi vắng, hạc không trở về hay những bậc quân tử không chịu ra giúp nước nhà. Có thể cụ Chu làm bài thơ này gửi tâm sự bất đắc chí sau khi dâng “Thất trảm sớ” nhưng không được nghe theo, đành cáo quan về hưu.

Là nhà tư tưởng thân dân, Nguyễn Trãi làm thơ Nôm cũng thật gần dân. Hình tượng ao xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi cũng là đương nhiên. “Cảnh ngày hè” là bài thơ hay: “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương/ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Cảnh mùa hè bừng lên sức sống khỏe khoắn, mới mẻ, có hình ảnh, màu sắc, âm thanh, hương vị hiện đại, gần với hôm nay. Hoa thạch lựu nở đỏ ở hiên nhà, hoa sen dưới ao tỏa hương thơm ngát. Không còn là cái ao bình thường mà trở thành một không gian về cái đẹp dân dã, thanh bình, nồng nàn, trong sáng.

Trong, đục ao làng... -1
Hình minh họa bài thơ "Con ếch" (Tranh Nhật Bản).

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết về hình ảnh cái ao nhà quê của người quê giản dị: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Có lẽ Trạng Trình là người duy nhất và chỉ một lần thiêng hóa cái ao trong bài “Bạch lộ thi” (Bài thơ về cò trắng), có câu: “Linh chiểu ưu du đào thánh hóa” (Nhởn nhơ ở ao thiêng, rũ hết giáo hóa của thánh nhân) với cái ý mỉa mai sự không tương xứng giữa môi trường và cá thể. Có thể hiểu ý câu thơ: không nên để kẻ tiểu nhân (con cò), dù đẹp mã bề ngoài đến (tắm) nơi sang trọng, cao quý (ao thiêng).

Là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, Nguyễn Khuyến viết nhiều nhất về ”ao”: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo…/ Tựa gối,ôm cần lâu chẳng được/ Cá đâu đớp động dưới chân bèo” (Thu điếu). Ao mà “nước trong veo” thường ít cá. Thế nên “Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, thì có thể hiểu “câu cá” chỉ là nguyên cớ để giãi bày/gửi gắm tâm trạng bên trong không nói ra được. Ở bài thơ “Bạn đến chơi nhà” có phần hóm hỉnh, vui vẻ hơn: “Đã bấy lâu nay, bác tới nhà/ Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa/ Ao sâu nước cả, khôn chài cá/ Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà...”.

Trong văn hóa Nhật Bản, cái ao bình dị đi vào thơ Haiku đã kiến tạo nên những mô hình sâu xa ý nghĩa, được nâng lên thành biểu tượng lớn lao hơn rất nhiều hình tượng ban đầu. Bài thơ “Con ếch” của Matsuo Basho là tiêu biểu: “Ao cũ/ Con ếch nhảy vào/ Vang tiếng nước xao”. Bằng lượng con chữ ít nhất nhưng nói được nhiều ý nghĩa nhất. Đó là một định nghĩa về thơ. Nhưng với thơ Haiku, còn hơn thế, là sự kết hợp, là sự lan tỏa, là vô thanh…

Bài thơ trên là sự kết hợp tương phản giữa cái cổ xưa, bất biến, ổn định, khuôn mẫu (ao cũ) với cái trước mắt, linh hoạt, phá cách (con ếch nhảy) tạo nên sự xao động (thay đổi/chuyển động). Cảnh vốn đã tĩnh càng thêm tĩnh nhờ cái âm thanh xao động ấy. Nhưng dù rất nhỏ, như mơ hồ, cũng đủ để đánh thức mặt ao. Cái ao hay là cả một Ok9 cab trò chơi casino phổ biến Nhật Bản tĩnh lặng, cổ hủ (!?). Chú ếch hay mỗi cá nhân, nhất là những người trẻ nếu cùng nhau “nhảy vào”, sẽ tạo ra cả một trường xung lực lớn, thậm chí dữ dội… để thay đổi. Bên trong chất Thiền tưởng như tĩnh lặng mà ngùn ngụt chất chứa một khát khao đổi mới. Đó cũng là một nét tính cách Nhật!

Ở làng quê Việt hôm nay, những hình ảnh trong bài hát thật hay “Bên bờ ao nhà mình” (Lê Minh Sơn) bây giờ còn ít lắm. Cố mà giữ lại, vì đó là một phần hồn làng quê Việt: “Bên bờ ao nhà mình, con chuồn chuồn vẫn đậu cánh bèo tây/ Bên bờ ao nhà mình, lập lòe đom đóm bay…/ Trái cam màu vàng em đã trồng bên bờ ao”…!!! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.