Kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765 -2015)

Trở lại “nét ngài nở nang” của Thúy Vân và tiếng nghệ Tĩnh trong “Truyện Kiều”

Những người thích tìm hiểu "Truyện Kiều" đều biết rằng, cuộc tranh cãi về "nét ngài" của Thúy Vân của các học giả ngót hai trăm năm qua bất phân thắng bại, cũng giống như cuộc tranh cãi cào cào, châu chấu hay tôm và tép. Kết cục thì không ai chịu ai, mỗi người cứ giữ nguyên ý kiến của mình trước khi vào cuộc tranh luận.

Con nào là cào cào, con nào là châu chấu; con nào tép, con nào tôm… tưởng đơn giản vô cùng, chỉ vì quen gọi theo từng địa phương mà khó phân xử đúng sai, huống chi cái nét ngài của cô Thúy Vân từ những năm "Gia Tĩnh triều Minh" bên Tàu, cách nay ngót năm trăm năm, thì còn khó gấp bội. Ta cùng đọc lại hai câu thơ 19 - 20 tả Thúy Vân:

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét NGÀI nở nang

Những người cho nét ngài đó là nét lông mày, cái chính là dựa vào văn bản của các bản Kiều Nôm xuất bản nửa cuối của thế kỷ XIX, như các bản Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Duy Minh Thị… đều viết chữ "ngài" đó có "bộ trùng", thì tất phải là con tằm ngài rồi, nên không chấp nhận ý kiến khác. Những người coi chữ "ngài" đó là tiếng Nghệ Tĩnh thì luận rằng, với tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du, sẽ không bao giờ dùng tính từ "nở nang" để bổ nghĩa cho nét lông mày, vì với Cụ, thì có thể chọn được rất nhiều tính từ khác hợp hơn được đặt vào đây.

Hơn nữa, khi tả Từ Hải, Cụ đã viết: "Râu hùm, hàm én, mày ngài", chả lẽ lông mày Thúy Vân cũng như lông mày hình lưỡi búa của tướng võ? Vậy nên "nét ngài" ở đây là tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, chỉ nét người, rất hợp với tả người một cách tương đối tổng thể, mặt đầy đặn, người nở nang… Những người "phe kia" chất vấn: "Thế thì giải thích sao khi chữ "ngài" được viết lại có bộ trùng để chỉ con ngài tằm?”

Tranh minh họa cảnh chị em Thúy Kiều - Thúy Vân gặp Kim Trọng.
Tranh minh họa cảnh chị em Thúy Kiều - Thúy Vân gặp Kim Trọng.

Xin thưa: Trong nhiều bản Kiều Nôm chúng ta có được, đều không phải nguyên bản chữ do Nguyễn Du viết, mà do tay những người quảng bá "Truyện Kiều" chép lại rồi đem in, họ chép theo cách hiểu của riêng mình nên có khi giữ được âm mà sai nghĩa. Đối với những người miền Bắc, chữ "ngài" chỉ có hai nghĩa là con ngài tằm và một đấng được tôn trọng, ở đây họ thấy con tằm ngài là thích hợp, nên dùng chữ đó (có bộ trùng). Chuyện này không phải là cá biệt, mà xuất hiện khá nhiều trong các bản Nôm cổ, như bản Liễu Văn Đường… ví như hai câu 1565 - 1566 nói về Hoạn Thư:

Buồng ĐÀO khuya sớm thảnh thơi
Ra vào một mực nói cười như không

Chữ "đào" ở câu thứ nhất là màu đào, màu đỏ nhạt để chỉ căn phòng phụ nữ, thì lại viết có bộ mộc, chỉ cây đào! Hay như hai câu 3017 - 3010:

Huyên già dưới GỐI gieo mình
Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi

Ở đây Nguyễn Du sử dụng phép đảo ngữ làm nhiều người hiểu nhầm, đúng ra là "gieo mình dưới gối huyên già", chủ ngữ ẩn, chỉ Thúy Kiều, và gối ở đây là "đầu gối". Trong bản Liễu Văn Đường, chữ gối được viết có bộ mộc, chỉ cái gối gỗ dùng để gối đầu, đúng ra phải viết có bộ túc, chỉ đầu gối. Điểm qua vài ví dụ như vậy để nói rằng, không phải chữ Nôm nào có trong văn bản cũng đều đáng tin cậy, như chữ "ngài" có bộ trùng mà chúng ta đang khảo sát.

Sự thật có nhà hiệu đính đã hiểu đúng, văn bản cổ đã khắc đúng chữ "ngài" để chỉ người, như "Kim Vân Kiều tân truyện" được Abel des Michels dịch ra tiếng Pháp năm 1884, hay bản "Kim Vân Kiều tân truyện", Phúc Văn Đường tàng bản (1916) và bản Kiều do cụ Chu Phi Bảng chép tay ở Diễn Châu, Nghệ An…

Trong "Truyện Kiều", Đại thi hào sử dụng một số tiếng Nghệ Tĩnh, ngoài chữ "ngài" này ra, còn một số chữ khác, như chữ "nghỉ", đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, số ít. Với chữ Nôm, chữ "nghỉ" và "nghĩ" viết giống nhau, nên muốn phiên âm đúng, cần biết ý nghĩa của chữ "nghỉ" người Nghệ Tĩnh thường dùng với nghĩa "hắn ta", coi thường hoặc suồng sã. Ông Đinh Văn Niêm, cháu ngoại sáu đời của cụ Nguyễn Du có phát biểu một câu đáng nhớ khi nghe tin Hội Kiều Học Việt Nam đang tổ chức hiệu đính "Truyện Kiều": "Các ông muốn hiệu đính thế nào thì tùy, nhưng nếu đọc đến câu thứ 12 mà "Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung" thì tôi không thèm đọc nữa, vì như vậy là không hiểu tiếng Nghệ Tĩnh và không hiểu cụ Nguyễn Du". Tôi tán thành ý kiến ấy.

Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du chỉ dùng chữ "nghỉ" để chỉ Mã Giám Sinh và Sở Khanh, còn đối với ngay cả Thúc Sinh, Kim Trọng… những nhân vật chính xuất hiện nhiều, rất cần thay đổi đại từ nhân xưng cho phong phú, tránh trùng lặp… nhưng cụ không bao giờ dùng chữ "nghỉ", mà chỉ dùng chữ Kim, Thúc, Sinh, chàng mà thôi, thì sao với Vương Viên ngoại, một ông già đáng kính, thi hào lại dùng chữ "nghỉ"?

Tôi đã từng đem câu Kiều thứ 320 ra hỏi rất nhiều bạn bè mê Kiều người Bắc: "Là người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe" thì hai chữ "chẳng nhe" nghĩa là gì? Không một ai trả lời được, dễ hiểu thôi, vì họ là người Bắc, mà ở đây cụ Nguyễn Du dùng tiếng Nghệ. Để bắn súng hoặc bắn cung đúng đích, người bắn phải ngắm. Ngắm là tiếng phổ thông, còn tiếng Nghệ gọi là "nhe". Chữ "nhe" còn có nghĩa rộng là ngắm nghía, cân nhắc, suy xét… một cách cẩn thận. Một vị bác sĩ ở Hà Tĩnh bảo với tôi rằng, khi mua cam, anh chọn được mười quả rồi, đang phân vân xem có nên đổi quả nào không, thì bà bán cam nói: "Mười quả nớ to nhất rổ rồi, còn nhắm với nhe chi nữa"! Với ý nghĩa ấy, Kim Trọng không cần cân nhắc, suy xét (chẳng nhe) cũng nhận ra Thúy Kiều là người hôm nọ!

Còn hai câu 1133 - 1134:

Tú Bà tốc thẳng tới nơi
Hằm hằm áp ĐIÊåU một hơi lại nhà

Hai chữ đầu câu bát, nhiều bản phiên âm là "Hăm hăm", như thế không chính xác, mà phải là "hằm hằm", chỉ bộ mặt tức giận nhưng không nói gì. Nhưng ở đây tôi muốn bàn ba chữ "điệu một hơi", là thành ngữ quen thuộc người Nghệ đến ngày nay vẫn quen sử dụng. Tôi đã hỏi nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo, quê Bắc Ninh rằng, người quê anh có hiểu chữ "điệu" ở đây nghĩa là gì không. Anh Bảo trả lời rằng, chỉ những ai học chữ Hán mới hiểu, còn nói chung thì không. Chữ "điệu" vốn là động từ Hán Việt, theo nghĩa lôi, kéo… và người Nghệ lâu nay vẫn sử dụng trong ngôn ngữ hằâng ngày, theo nghĩa dùng nhiều sức để lôi, để kéo một người, một động vật theo ý mình, trong khi đối tượng bị kéo luôn chống lại. "Điệu một hơi" là nín thở mà kéo, vì nín thở nên Tú Bà không nói gì, mà vẻ mặt hằm hằm, giận dữ.

 Xét thêm một trường hợp nữa, câu 585 - 586:

Điều đâu bay buộc ai làm
Vì ai đan RẬP giật giàm bỗng dưng.

Trong bản Liễu Văn Đường 1971 do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, chữ thứ tư ở câu bát được phiên âm là rập, nhưng in nghiêng như những chữ đáng nghi ngờ khác, vì ông Tuân không hiểu chữ RẬP có nghĩa gì. Đây cũng là một từ Nghệ Tĩnh quen thuộc, chỉ dụng cụ để đánh bắt giơi, bắt chim, gồm hai sào nứa, khoảng giữa căng lưới, thường ban đêm căng trên đường giơi bay đi ăn quả, hoặc chim bay khi bị người đánh động bằng cách dùng sào đập vào các bụi rậm chúng ngủ đêm. Khi giơi hoặc chim vướng vào lưới thì hai sào nứa được người ta rập lại sát nhau, để chúng không thể bay ngược trở lại được. Vì cái động tác "rập" đó, mà dụng cụ này có tên gọi là cái rập. Kiều Oánh Mậu cũng không hiểu được ý nghĩa chữ này, nên ông đổi thành chữ "giậm", chỉ dụng cụ bắt cá!...

Nguyễn Du quê Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, sinh thời ông sống nhiều vùng quê từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Ông sống ở quê Hà Tĩnh một số lần, đợt dài nhất sáu năm trời… nên ông hiểu tiếng Nghệ và trong sáng tác văn chương, thi thoảng ông có dùng một ít từ Nghệ có chọn lọc, chứ không bao giờ sử dụng tràn lan tiếng địa phương như một số người khác chỉ sống trên vùng đất này. Khi đọc "Truyện Kiều", chúng ta lưu ý điều này, và thật may cho bạn đọc phổ thông, số tiếng Nghệ trong "Truyện Kiều" khá ít, chắc đếm chưa hết trên đầu mười ngón tay!

Vương Trọng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.