"Trà Giang thu nguyệt ca": Một kiệt tác văn chương

Cao Bá Quát (1808-1855), tên chữ là Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, tài hay chữ vào bậc nhất đương thời. Người đời tôn vinh ông là Thánh Thơ (Thi Thánh).
  • Cao Bá Quát và cái án “giảo giam hậu”
  • Cao Bá Quát và bài thơ viết về tàu thuyền nước Anh
  • Cao Bá Quát: Kẻ sĩ mang trái tim hoa mai

Thơ Cao Bá Quát còn lại khoảng 1.500 bài, chủ yếu là thơ chữ Hán. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát chẳng những phong phú về nội dung, mà còn đặc sắc về Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Hình ảnh TRĂNG được nhà thơ sử dụng như một biểu tượng hàm ẩn để ký thác tâm trạng, tinh vi và sâu sắc. "TRÀ GIANG THU NGUYỆT CA" là một trong những bài thơ đặc sắc của Cao Bá Quát.

Phiên âm:

Trà giang nguyệt
Kim dạ vị thuỳ thanh?
Quan sơn vạn lý hạo nhất sắc,
Hà xứ bất hệ ly nhân tình?
Cử bôi thi yêu nguyệt
Nguyệt nhập bôi trung hành.
Hàm bôi dục yết cánh phi khứ
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành.
Đinh bôi thả phục trí
Hựu kiến cô quang sinh
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn xả?
Ngã thị Trúc Lâm cùng đồ chi Bộ binh!
Giang đầu thử tịch phùng thu tiết
Tửu mãn tu khuynh vị quân thuyết:
 Đà môn cựu lữ Tồn Chân ông
Cần Hải minh tiên hiểu tương biệt.
Tạc dạ kim phong hạ thiên khuyết
Bạch lộ, thanh sương sảo xâm cốt 
Nhân sinh hội ngộ an khả thường?
Hữu tửu thả ẩm Trà giang nguyệt!
Trà giang nguyệt!
Như kính hạ ngân lưu
Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ
Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu!

Tranh vẽ thi nhân Cao Bá Quát.
Tranh vẽ thi nhân Cao Bá Quát.

Dịch nghĩa:

BÀI CA "TRĂNG THU SÔNG TRÀ"

                (Tặng bác Bảo Xuyên đi quân thứ ở An Giang)

Trăng sông Trà!
Đêm nay vì ai mà trong trẻo?
Muôn dặm quan san một màu trắng xoá
Chỗ nào là chỗ không vướng vít tình người biệt ly?
Cất chén thử mời trăng
Trăng vào đi trong chén.
Ngậm chén toan uống thì trăng lại biến mất
Chỉ còn có bóng người dọc ngang.
Ngừng chén và đặt xuống
Thì lại thấy vành sáng hiện ra.
Hỏi trăng vì sao cứ quyến luyến không nỡ bỏ?
Ta chỉ là anh Bộ binh gặp bước đường cùng trong bọn Trúc Lâm
Tối nay, gặp tiết thu trên ngọn sóng
Muốn nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết:
Bạn cũ của ta ở cửa Đà Nẵng là bác Tồn Chân
Đến sáng mai sẽ thúc ngựa đi cửa bể Cần Giờ.
Đêm trước, gió vàng đã từ cửa nhà trời thổi xuống,
Móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương.
Ở đời, muốn gặp gỡ nhau luôn không được
Có rượu đây, hãy uống với trăng sông Trà
Trăng sông Trà!
Như tấm gương dầm dưới dòng nước bạc,
Là người trượng phu đã chống gươm đi là đi thẳng
Chẳng bắt chước như đàn bà con trẻ, bịn rịn trong lúc phân kỳ!

DỊCH THƠ

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

Trăng sông Trà! Trăng sông Trà!
Vì ai trong trẻo ngọc ngà đêm nay?
Quan san muôn dặm màu mây trắng,
Chỗ nào không vương vấn biệt ly?
Mời trăng một chén, ngại chi?
Trăng vào trong chén, trăng đi bên người.
Ngậm chén uống, trăng bay đi mất,
Quẩn quanh đây vương vất bóng người.
Ngừng tay, chén đặt xuống rồi,
Kìa trăng lại đến mỉm cười với ta.
Hỏi rằng trăng cớ sao quyến luyến,
Ta "đường cùng" trong đám Trúc Lâm?
Đêm nay thu mát trên sông,
Muốn nghiêng bầu rượu nói cùng trăng hay:
Bạn ta, bác Tồn Chân Đà Nẵng,
Sáng mai đây phải đến Cần Giờ.
Móc sương buốt tấm thân xơ,
Gió vàng thổi xuống "ơn nhờ" Thiên Môn.
Ở đời, muốn gặp nhau chẳng dễ,
Uống cùng trăng, ta sẵn rượu thơm.
Sông Trà trong vắt như gương,
Gương trăng đáy nước vấn vương với người.

Chống gươm đi khắp gầm trời,
Trượng phu há để thói đời cản ngăn!

 Ở Quảng Ngãi, nhân một đêm trăng bên sông Trà, Cao Bá Quát có cuộc chia tay với một người bạn, là ông Tồn Chân. Ông này được phái đi quân thứ ở Cần Giờ, nên có bài thơ này.

Cũng như "Sa hành đoản ca", "Trà giang thu nguyệt ca" là bài thơ viết theo thể "ca", một thể thơ không bị câu thúc bởi những quy phạm chặt chẽ của các loại cổ thi truyền thống. Câu ngắn câu dài, tuỳ theo mạch cảm xúc của tác giả, do đó, tình thơ ý thơ tung tẩy phóng túng, hoà quyện ngân nga, khi lãng đãng khói sương, khi phập phồng gió cuốn mây bay, khi vút cao như tiếng hạc kêu đầu núi…Tóm lại, nó là một thể thơ rất hợp với phong cốt của Cao Chu Thần!

Mở đầu, đã thấy Cao thi sĩ cất lên lời ca gọi trăng. Và hỏi trăng "vì ai mà sáng trong đến thế?". Tứ bề, chỉ thấy một màu trăng trắng xoá, mê đắm hữu tình, như thể "khắp nơi vương vấn tình người xa nhau"…

Như thế là trăng kia cũng cảm thấu lòng người, hay lòng người đã sẵn có tâm trạng biệt ly, nên nhìn trăng mà nghĩ ngợi xa xôi, mà cảm thấy như khắp nơi đều vương vấn màu ly biệt? Quả là một câu thơ thực ảo hoà trộn vào nhau, tình và cảnh hoà trộn vào nhau, gợi nỗi buồn man mác, phảng phất phong vị Đường thi.

Rồi thì "cất chén thử mời trăng / trăng vào đi trong chén". Và khi "đỡ chén lên môi, thì trăng lại vụt biến / chỉ còn thấy bóng người đang dọc ngang"… Đến khi đặt chén xuống", lại thấy trăng hiện về bóng lại long lanh". Mới hỏi trăng, rằng "vì sao quyến luyến mà không nỡ đi như vậy?".

Đoạn thơ mời trăng uống rượu, thấp thoáng hơi hướng bài "Tương tiến tửu" của Lý Bạch đời Đường bên Tàu, nhưng tuyệt nhiên không phải là một sự sao chép thô thiển. Cao Chu Thần sử dụng thi liệu Đường thi, nhưng đã chuyển hoá một cách tài tình. Trăng thu sông Trà của ông uyển chuyển sinh động hơn, thoắt ẩn, thoắt hiện, như một người bạn rất xa mà lại rất gần, quyến luyến như người tri âm tri kỷ. Lý Bạch ôm cái cô đơn, cô độc, bảo rằng: "Trăng đã không biết uống / bóng chỉ quẩn theo ta". Trăng thu sông Trà của Cao Bá Quát gần gũi, giàu nhân tính, sẻ chia đồng điệu và đầy ắp long lanh, đầy ắp nhân tình…

Mời trăng uống rượu, rồi lại than thở về thân phận của mình, nói rằng: Ta, rốt cục, cũng chỉ là "anh Bộ Binh gặp bước đường cùng trong bọn Trúc Lâm". Mà bọn Trúc Lâm kia là ai vậy? Chính là "Trúc Lâm thất hiền" đời xưa, cũng ở bên Tàu, trong đó có ông Bộ Binh Nguyễn Tịch. Nhà thơ mượn tích này, để mô phỏng hình ảnh của chính mình, mô phỏng cái sự bi đát của kẻ cùng đường đấy thôi!...

"Tối nay, gặp tiết thu trên ngọn sông / muốn nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết / bạn cũ của ta ở cửa Đà Nẵng là bác Tồn Chân / đến sáng mai sẽ thúc ngựa đi cửa bể Cần Giờ"…

Thế nghĩa là người bạn của tác giả, sớm mai sẽ lại đi quân thứ, mãi tận cửa biển Cần Giờ xa xôi, nhiều gian khổ và bất trắc. Nhưng sao lại phải "nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết" (vị quân thuyết)? Một thông báo, mà đối tượng nghe thì vừa cụ thể, lại dường như rất mơ hồ. Câu sau, lại còn có vẻ mơ hồ nữa: "Đêm trước, gió vàng đã từ cửa nhà trời thổi xuống / Móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương"…

Hoá ra là một câu thơ đầy ẩn ý mỉa mai chua chát. Rằng tên tội thần họ Cao đang ngồi đây, cũng đã từng "đội ơn mưa móc" của "Nhà trời", đã "hàm ơn" đổ xuống một trận "gió vàng", để cho đến bây giờ "móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương"! Tác giả có lẽ đã thấm thía vô cùng cái thứ "gió vàng" mà ông đã phải "mang ơn", bây giờ đã bắt đầu "lạnh đến xương"!

Chắc là thi nhân bị lưu đày muốn nhắc tới những "kỷ niệm không vui" của quãng đời cay đắng vừa nếm trải, tức những cuộc tra tấn dã man mà triều Nguyễn đã dành cho tội thần họ Cao trong tù ngục vừa qua. Hoàn cảnh thực tế không cho phép tác giả nói ra sự thật đau đớn mà cuộc đời ông vừa nếm trải, nên tác giả phải dùng ẩn dụ xa xôi, để gửi gắm tâm sự thầm kín của mình. "Tai vách mạch rừng", kẻ tiểu nhân cầu lợi váng vất đó đây, không thể không giữ mình cẩn thận!

Rồi ca tiếp: "Ở đời, muốn gặp nhau luôn không được/ có rượu đây, hãy uống với trăng sông Trà / trăng sông Trà/ như tấm gương dầm trong dòng nước bạc" ! Ý nghĩ và tình cảm cứ theo hơi men mà tung tẩy, mà đưa đẩy uyển chuyển biến hoá khôn lường. Chúng ta, bác Tồn Chân và Chu Thần tôi, với cả trăng sông Trà nữa, hãy cùng nhau lại nâng chén mà "rót đau lòng ấy vào đau lòng này" (Trần Huyền Trân)…

Bài ca kết thúc bằng một câu bi tráng: "Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ / kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu" ! Cao thi sĩ nói với ai? Chẳng phải là nói với bạn Tồn Chân ư? Chẳng phải là nói với chính mình ư? Với Trăng sông Trà ư? …

Quả là một kiệt tác, hiếm thấy trong văn chương đương thời. "Trà giang thu nguyệt ca" ôm chứa một hồn thơ khoáng đạt. Nó hoàn toàn không phải là một thứ kỹ xảo văn chương vờ vĩnh. Nó chính là gan ruột của thầy Cao, chân thành đắm đuối, trong trẻo như trăng sông Trà. Những câu thơ đầy bản lĩnh của Cao Chu Thần, khiến người đọc không thể chỉ đọc bằng mắt, cho dù là "mắt xanh" đi nữa!

Hà Nội 10-7-2010

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.