Tôi đi học trường huyện

Hòa bình lập lại, tháng 9 năm 1954 tôi lên học cấp hai. Cả huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) hồi đó chỉ có duy nhất một trường cấp hai, được gọi là “Trường cấp II Thiệu Hóa” (hiện nay là Trường THCS thị trấn Vạn Hà, hay thị trấn Thiệu Hóa). Cả làng tôi năm đó chỉ có hai học sinh cấp I đỗ cấp II. Tôi và anh Lê Tâm Thể. Hai anh em tôi cùng xóm, nhà anh Thể ở đầu xóm, xóm ngoài, còn nhà tôi ở xóm trong, nhìn ra cánh đồng làng.

  • Mẹ tôi về lại tháng mười

Chiều chiều tôi và anh Thể rủ nhau đi gánh nước giếng làng, giếng đất. Khoảng năm giờ chiều mỗi ngày, tôi ra đầu xóm gọi anh, hai anh em mỗi người gánh một đôi nồi mà làng tôi gọi là “nồi su” trên vai (tên gọi loại nồi đất, miệng tròn, dùng đựng nước mưa, nước giếng ở làng tôi) ra giếng (giếng đất) múc nước, gánh về nhà để dùng.

Hồi đó, làng tôi còn có một chiếc giếng xây bằng gạch, gần đình làng, nhưng vì nước tanh, nồng, nấu cơm thì cơm mất ngon, nấu nước chè thì nước chè mất mùi, cho nên dân làng hầu như không sử dụng. Sau này người ta đã lấp chiếc giếng này, chỉ còn lại giếng đất dùng chung. Tiếp đó giếng đất cũng bị loại bỏ, cả làng chuyển sang dùng nước giếng khoan cho trong lành, đảm bảo vệ sinh.

Cách đây một tuần, em tôi ở quê báo tin vui, làng tôi vừa được cấp nước máy, nước máy đến từng nhà, như ở thành phố. Đúng là làng lên phố. Tôi nói vậy còn là vì nhà tôi bây giờ có số má hẳn hoi, nhà số 9, đường Lãng Thượng...

Tôi đi học trường huyện -0
Đội nón rơm đi học.

Hồi kháng chiến chống Pháp làng tôi vô cùng lạc hậu, sống hoàn toàn tự nhiên, không điện, không OK9 thể thao xanh chín, không đài. Đã có thời gian tôi và mấy thằng bạn trong xóm xin tiền bố mẹ, rủ nhau đi mua một cục đá galen về làm “loa galen” để nghe Đài Tiếng nói Việt Nam. Hì hục mấy ngày liền, nào lắp “linh kiện” theo sơ đồ hướng dẫn, nào leo lên hai cây cau cao nhất vườn kéo dây ăngten. Nhưng rốt cuộc không thành công. Chỉ nghe độc tiếng sột soạt, không nghe được đài, thất bại, chúng tôi buồn, mặt tiu nghỉu. Không hề có chuyện nghe dự báo thời tiết như bây giờ. Ngày mai, những ngày sắp tới, mưa nắng ra sao chẳng thể biết.

Nếu có cái gọi là “dự báo thời tiết” đi chăng nữa thì hoàn toàn dựa theo kinh nghiệm, trải nghiệm và những hiện tượng tự nhiên. Mẹ tôi thường là người dự báo thời tiết của nhà tôi. Mẹ tôi bảo: “Đêm qua tau đau ê ẩm cả người. Tay chân buồn bực, không ngủ được, chiều nay lại có mưa”. Hoặc: “Hôm nay chuồn chuồn bay thấp, bay là là sát mặt ao. Sắp có mưa”. Ông nội tôi là người báo bão cực giỏi, thậm chí rất chính xác. Ông tôi đứng giữa sân, ngắm mây trên trời. Nhìn mây ông nói với tôi: “Cháu ơi, mây trời hôm nay có vân vẩy cá như thế kia là sắp có bão đó”. Và quả đúng như vậy, mấy hôm sau bão đổ bộ vào quê tôi.

Tôi nhớ, mỗi lần có bão là một lần thiệt hại rất lớn, nhà đổ, vì hồi đó đa phần là nhà tranh vách đất. Cây cối trong làng đổ ngổn ngang, nhất là chuối, xoan. Bão tàn phá hàng giờ đồng hồ liền, cho nên trước khi bão đổ bộ phải huy động mọi phương tiện có thể để chằng chống nhà cửa. Nhà nào cũng đóng chặt cửa, cho gió bão không lọt được vào nhà. Ngồi co rúm trong căn nhà kín bưng, lũ trẻ con chúng tôi sợ vãi linh hồn, khi nghe tiếng gió rít mạnh, chỉ sợ nhà mình bị đổ. Theo kinh nghiệm thực tế ở quê tôi, phải khi nào “bão đông” nổi lên thì trận bão mới đến hồi kết. Vì bão chuyển động xoay tròn theo hướng ngược chiều kim đồng hồ mà.

Làng tôi nghèo và lạc hậu đến nỗi chẳng ai có đồng hồ, dù là đồng hồ báo thức hay đồng hồ đeo tay. Đồng hồ là một thứ xa lạ đối với dân quê chúng tôi. Mặt trời và gà gáy chính là “đồng hồ” của chúng tôi. Chẳng hạn, mười hai giờ trưa, tức là “trưa”, là lúc mặt trời đứng bóng, nghĩa là vào giờ này nếu ta đứng ngoài sân, dưới nắng trời, thì bóng người tròn xoe in ngay dưới chân mình. Còn gà gáy ban đêm chính là “đồng hồ báo thức” của nông dân, theo canh - canh một, canh hai, canh ba, canh bốn, canh năm.

Với tôi, mẹ tôi chính là “đồng hồ báo thức” của tôi. Không có mẹ tôi đánh thức chắc tôi toàn đi học muộn vì dậy muộn hoặc ngủ quên. Tôi còn trẻ, ngủ say “như chết”. Sáng nào cũng vậy, mẹ tôi lắng nghe tiếng gà gáy, nghe tiếng gà gáy là mẹ tôi biết đã mấy giờ để đánh thức tôi dậy đi học.

Hồi đó chẳng có chuyện đánh răng buổi sáng, chưa có “văn hóa đánh răng”, cho nên tôi không phải tốn thì giờ cho Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP vệ sinh cá nhân này. Vùng dậy khỏi giường, tôi chạy ngay xuống bếp, nhóm lửa nấu cơm, đun bằng rơm hoặc rạ. Tôi cho một bò gạo (ống bò chính là hộp sắt tây đựng sữa bò thời Pháp) tức khoảng một phần ba cân gạo vào cái niêu đồng để nấu bữa cơm sáng cho mình. Đó là bữa ăn tôi được “ưu tiên” không phải ăn độn. Còn cả nhà phải ăn cơm độn khoai (thường là khoai lang thái, phơi khô, để ăn dần).

Ăn xong tôi ra đầu xóm rủ anh Thể đi học. Để tới trường huyện chúng tôi phải đi bộ bốn cây số, đi qua chiếc cầu mà dân làng tôi vẫn gọi là “cầu Tây”, một chiếc cầu xi măng cốt thép bắc qua nông giang, OK9 đã banh từ thời Pháp thuộc. Có lẽ vì vậy mà dân làng tôi gọi là “cầu Tây”. Tiếp nữa, chúng tôi đi trên con đường xuyên qua hai cánh đồng, cánh đồng làng Vận Quy và cánh đồng làng Vạc.

Đến làng Vạc chúng tôi phải sang đò, gọi là đò Vạc, hay đò Vạn Hà, qua sông Chu, để sang xã Vạn Hà, nơi có Trường Cấp II Thiệu Hóa. Là học sinh phổ thông, chúng tôi được đi đò miễn phí. Cho nên mấy người lái đò thường không thích chở học sinh, vì họ bị “thất thu”.

Sang đò khổ nhất là mùa lũ, nước sông Chu dâng cao, chảy xiết. Để sang được bờ bên kia, người lái đò phải chèo đò ngược dòng, men theo bờ đến nửa cây số, lên gần làng Khoai, rồi lúc đó mới lấy hết sức bình sinh chèo thật mạnh tay cho con thuyền sang sông. Lúc này, con đò vừa dịch chuyển chậm chạp sang ngang vừa trôi mạnh xuôi theo dòng nước xiết, nếu không lái khéo léo, con đò dễ bị đâm vào những cây gỗ to đang lao như điên giữa dòng nước xoáy. Lái con đò nhằm trúng bến là chuyện không đơn giản chút nào. Còn khi con đò bị nước lũ chảy xiết đẩy trôi xuôi, chệch khỏi bến, thì người lái đò lại phải chèo đò ngược dòng, men theo bờ, để quay lại bến. Lắm khi chúng tôi bị muộn học vì những chuyến đò “bất kham” như vậy.

Đó là mùa lũ. Còn mùa đông, nước sông Chu cạn kiệt, để lộ những bãi cát dài, có chỗ nước chỉ sâu đến rốn chúng tôi. Nhất là đoạn ở cuối làng Vạc. Những khi như vậy chúng tôi rủ nhau lội sông cho nó thích. Tôi và anh Thể, tìm đoạn nước nông, hai thằng cởi truồng, tay ôm quần áo và sách vở, lội qua sông một cách ngon lành. Vừa lội sông tôi vừa nhìn về phía bến đò, vẻ mặt đầy kiêu hãnh, ra điều: “Hôm nay ta đếch phải luỵ đò”.

Bây giờ, tại nơi ngày xưa gọi là đò Vạc hay đò Vạn Hà, Link Đăng Ký Đăng Nhập Nhà Cái OK9 Chính Thức đã xây cầu Thiệu Hóa, hay còn gọi là cầu Vạn Hà, trên quốc lộ 45, nối thị trấn Thiệu Hóa (Vạn Hà) và xã Thiệu Đô. Chấm dứt cảnh sang sông phải lụy đò.

Lê Bá Thự

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.