Tiếng sáo thiên thai!

“Thiên thai” là nơi tiên ở. “Tiếng sáo thiên thai” là tiếng sáo ở cõi tiên vọng xuống trần gian. Chưa nói đến giá trị nội dung và Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, ngay ý nghĩa ấy đã nâng tầm bài thơ “Tiếng sáo Thiên Thai” nổi tiếng của Thế Lữ. Thực ra tiếng sáo đã vọng ở mọi chân trời văn hóa, gắn liền với sự trưởng thành và góp phần nuôi dưỡng tâm hồn nhân loại. Chiếc sáo được coi là nhạc khí cổ xưa nhất, cũng phổ biến nhất, được nhiều người dùng nhất.

  • Để có tiếng cười...

Thần thoại Hy Lạp có câu chuyện tiếng sáo thần Pan chăn dê - vị thần của sự hoang dã đồng quê, của những người du mục cùng các đàn gia súc, của tự nhiên và những ngọn núi hoang vu cùng việc săn bắn. Sau này âm nhạc đồng quê tôn Pan làm ông Tổ.

Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “pan” có nghĩa là “gặm cỏ”, có hình thù một nửa thân dưới của loài dê, lại có cặp sừng dê nên Pan được xem là vị thần của những cánh đồng, những khu rừng nhỏ và thung lũng nên được gắn với khả năng sinh sôi và mùa xuân. Đến nay người ta chưa lý giải thật sự thuyết phục những nét giống nhau giữa Pan chăn dê và các chú mục đồng phương Đông, mới chỉ nói được những nét tương đồng của tiếng sáo ở hai vùng không gian văn hóa.

image001.jpg -0
“Mục đồng thổi sáo” - Tranh Đông Hồ.

Người Trung Quốc cổ xưa mê tiếng sáo đến mức tưởng tượng ra chuyện vua Thuấn thổi khúc sáo khiến chim phượng hoàng bay về múa trước sân rồng. Chim phượng biểu tượng cho sự giàu sang vương giả rất khó tính chỉ chịu đậu trên cây ngô đồng, thế mà say mê tiếng sáo mà sà xuống... Chưa đủ người ta còn huyền thoại hóa bằng một câu chuyện rất đẹp, cực kỳ lãng mạn có tên “Lộng Ngọc - Tiêu Sử”.

Vua Tần Mục công có con gái tên Lộng Ngọc, nhan sắc tuyệt trần, lại thông minh, đặc biệt rất có tài thổi sáo. Chỉ tự học, mới 10 tuổi nàng đã thổi những bài véo von, du dương trầm bổng hay đến mức chim ngưng bay, gió ngừng thổi. Là người trần mà diễm phúc được nghe thì sẽ cảm thấy mình là người của tiên giới, hạnh phúc vô cùng. Mục công chiều con bèn sai thợ làm một cái sáo bằng ngọc để nàng thổi làm cho tiếng sáo còn hay hơn nhiều, trong hơn tiếng chim phượng, ấm hơn cả bình minh. Tiếng sáo của nàng cất lên thì cả đất trời như bừng sáng, lộng lẫy. Tên nàng Lộng Ngọc là vì thế! Mục Công làm một cái lầu cho nàng ở tên là “Phượng lâu”, trước lầu có một cái đài cao gọi là “Phượng đài”.

Khi 15 tuổi, một đêm nàng nằm mơ phía Tây Nam trên trời hào quang ngũ sắc, có một chàng trai trẻ rẽ mây, mũ lông áo hạc, cưỡi chim phượng bay xuống. Chàng tự giới thiệu tên Tiêu Sử và nói được Ngọc Hoàng cho kết duyên với Lộng Ngọc. Nói rồi chàng rút ống tiêu đứng dựa lan can Phượng đài mà thổi. Con chim phượng cũng vươn cánh ra, vừa hót vừa múa theo nhịp tiêu... Khỏi phải nói đến sự vui sướng hân hoan của Lộng Ngọc...

Hai người cùng yết kiến Mục công và xin phép kết thành vợ chồng rồi bay về trời, nghĩa là họ cũng bay vào bầu trời văn hóa phương Đông để vĩnh viễn được tôn xưng: cặp vợ chồng nghệ sĩ tài năng nhất, hạnh phúc nhất. Cũng là sự tôn xưng tiếng sáo bất tử, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đích thực sẽ mãi mãi sống ở chốn Bồng Lai.

Cũng từ đó các đệ tử của họ, tức các chú mục đồng khi thổi sáo cũng hướng lên trời mà thổi, không chỉ để “sư phụ” nghe, mà cơ bản là tưởng tượng người thổi sáo cũng hạnh phúc như vợ chồng Lộng Ngọc - Tiêu Sử. Thế nên vọng trong tiếng sáo nói chung luôn có sự khát khao, có sự bâng khuâng mơ màng, có sự thèm muốn... nên ai cũng muốn nghe...

Đó đích thực là huyền thoại nhưng chuyện sau thì gần với sự thật hơn. Và có thể là thật. Thời Hán - Sở tranh hùng, năm 202 TCN, Sở Bá vương Hạng Vũ bị quân đội của Hán vương Lưu Bang vây ở thành Cai Hạ, gần sông Ô Giang. Hạng Vũ núng thế... Đêm ấy trong không gian như mờ như tỏ, một tiếng sáo cất lên cao vút, bổng trầm rồi nỉ non, tha thiết, bi thương... như kể như than về quê hương vùng nước Sở có người mẹ già chờ con, người vợ yếu ngóng chồng, đứa con thơ gọi cha... Rồi như giục giã những anh lính xa quê rời nơi máu lửa tìm về nơi tổ ấm bình yên... Quân Sở như rã rời không bị đánh cũng tự thua. Sở Bá vương bại trận.

Người thổi tiếng sáo ấy là mưu thần Trương Lương về sau được lịch sử chiến tranh quân sự thế giới tôn làm Tổ sư của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 binh vận, tức đánh vào tâm lý, vận động binh lính đối phương. Cũng ghi nhận luôn nhạc cụ sáo là một thứ vũ khí hiệu quả, lợi hại. Đó là nghĩa bóng. Còn nghĩa thực là có một loại võ dùng nhạc cụ sáo bằng sắt gọi tắt là võ sáo. Võ sĩ dùng sáo ấy thổi, khi cần lấy đó làm vũ khí bất ngờ tiêu diệt đối thủ. Tương truyền nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám từng đóng giả làm người hát rong vào tận đồn Pháp đánh giặc gây cho chúng nhiều thiệt hại, hoang mang...

image002.jpg -0
Lộng Ngọc thổi sáo!

Năm 1984 tại di chỉ Giả Hồ (Hà Nam - Trung Quốc) khai quật được hơn 30 cây sáo được chế tạo từ xương chim hạc có độ tuổi 7.800 - 9.000 năm. Theo giới chuyên môn, các âm giai của nó được cấu tạo khá hoàn chỉnh. Năm 1995, tại một hang động ở Slovenia chiếc sáo Divje Babe có niên đại từ 43-60.000 năm được phát hiện. Những chứng cứ ấy cho thấy sáo được hoàn thiện từ rất sớm, mà qua các dẫn chứng trên cũng cho thấy phần nào.

Trong văn chương bác học thì dễ thấy góp phần tạo nên âm hưởng Đường thi xa vắng dìu dặt buồn, hoang hoải da diết vọng cố hương là tiếng sáo. Tiếng sáo trong bài thơ “Đêm khuya ở thành Lạc Dương nghe thổi sáo” của Lý Bạch không chỉ vọng trong thế giới thơ Đường mà còn vọng mãi cùng hồn nhân loại vì nó gợi lên âm hưởng về nỗi nhớ quê: “Nhà ai sáo ngọc tiếng mơ màng/ Theo gió xuân vào khắp Lạc Dương/ Văng vẳng đêm nay bài “Chiết liễu”/ Ai người không chạnh nỗi tha hương?”.

Câu hỏi cuối bài thơ không hề là hỏi mà là sự đánh thức những tâm hồn xa quê đồng cảm, đồng điệu. Cùng chủ đề “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn có những câu ám ảnh: “Lửa thành thoi thóp bên cồn/ Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu”. Trong không gian chiến trường về đêm một tiếng sáo cất lên càng làm không gian như “thoi thóp” thêm, lòng người càng xa vắng, cồn cào thêm.

Hình như thủ pháp “lấy động tả tĩnh” trong thơ cổ thì đắc địa nhất là dùng tiếng sáo. Từ “Mục đồng” của Lã Nham (đời Đường): “Đồng nội bát ngát cỏ xanh/ Gió chiều văng vẳng âm thanh sáo đồng” đến “Thôn vãn” của Lôi Chấn (đời Tống): “Mục đồng vắt vẻo lưng trâu/ Miệng xinh thổi khúc nhạc nào vu vơ”. Rồi “Thiên Trường vãn vọng” của Trần Nhân Tông: “Trước xóm sau thôn tựa khói lồng/ Bóng chiều man mác có dường không/ Mục đồng sáo vẳng trâu về hết/ Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”. Cả ba bài có điểm giống nhau là chung motif tiếng sáo của những chú mục đồng. Tiếng sáo như đẩy không gian cao hơn, rộng hơn và đi nhanh hơn về phía hoàng hôn!

Đến thời hiện đại, bài thơ “Tiếng sáo Thiên Thai” của Thế Lữ “gói” tiếng sáo vào thể lục bát nhưng lại là cách đưa bạn đọc bay lên chiêm bái thế giới bồng lai bằng đôi cánh sáu tám của thể lục bát truyền thống: “Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi/ Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng”. Tiếng sáo mở ra không gian để đưa độc giả “bay” theo cùng đôi hạc trắng: “Trời cao, xanh ngắt - Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai”. “Hạc trắng” chính là nhắc lại điển tích Lộng Ngọc - Tiêu Sử như là một cách cổ tích hóa để đẩy không gian về thuở cổ điển ngày xưa. Chỉ trong không gian ấy tiếng sáo mới càng trở nên huyền thoại, mơ màng, bay bổng, tất nhiên cũng không vật cản như trong cổ tích: “Khi cao, vút tận mây mờ/ Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh/ Êm như lọt tiếng tơ tình/ Đẹp như Ngọc nữ uốn mình trong không”...

Trong văn xuôi hiện đại người tả tiếng sáo giỏi nhất có lẽ là Tô Hoài trong “Vợ chồng A Phủ”. Giả sử tước bỏ hình tượng tiếng sáo khỏi cấu trúc hình tượng Mị thì nhân vật này sẽ không còn sức sống cũng không có sự phát triển tâm lý bởi mất đi một điểm tựa kết cấu. Về làm dâu nhà thống lý Pá Tra tức là Mị chịu sống kiếp con vật “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Đến khi nghe được tiếng sáo trong những đêm tình mùa xuân “Mị thấy phơi phới trở lại”, rồi cảm “thấy thiết tha bổi hổi”...

Tiếng sáo đã đánh thức tình yêu trong con người Mị. Nhớ về thời trước Mị đã yêu và từng được yêu cùng tiếng sáo gọi bạn tình... Tiếng sáo như tiếp thêm sức sống, bản lĩnh và ý thức phản kháng đòi lại quyền sống. Mị cắt dây trói thực ra là cắt đi sự trói buộc của thần quyền, cường quyền, tục quyền để làm người tự do. Tiếng sáo, hiểu rộng hơn là Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 nói chung sẽ giúp con người bay lên bầu trời tự do!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.