Thủ pháp đảo ngữ trong "Truyện Kiều"

Ngữ pháp quen thuộc của chúng ta thường theo thứ tự chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, còn các thành phần khác có thể đứng trước hoặc sau câu. Trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du không tuân thủ thứ tự đó, để bảo đảm vần điệu cho câu thơ. Có khi sự hoán vị này không làm khó người đọc khi tìm hiểu câu thơ, vì như câu: “Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

  • Câu lục phá cách trong “Truyện Kiều”
  • Thưởng thức “Truyện Kiều" trên lịch

Thì ai cũng biết chủ ngữ của động từ “đánh ghen” là “trời xanh”, còn “má hồng” là tân ngữ của vị ngữ “đánh ghen”. Như vậy ở đây, thi hào đã hoán vị vị ngữ và tân ngữ. Câu thơ ấy nếu diễn tả đúng theo ngữ pháp là: “Trời xanh quen thói đánh ghen má hồng”. Tương tự như vậy, câu: “Cảo thơm lần giở trước đèn/ Phong tình cổ lục còn  truyền sử xanh” thì tác giả đã hoán vị vị ngữ và tân ngữ. Đây là một câu chủ ngữ ẩn, nếu sắp xếp đúng thứ tự ngữ pháp sẽ là: “Lần giở cao thơm trước đèn” hoặc “Trước đèn lần giở cảo thơm”, nhưng như vậy sẽ thất vận.

Có khi tác giả hoán vị các từ chỉ vì trắc bằng trong câu lục bát. Ví như khi giới thiệu Hoạn Thư, Nguyễn Du viết: “Ở ăn thì nết cũng hay/ Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”.     

tranh.jpg -0
Tranh Thúy Kiều và Kim Trọng trao trâm cài làm tin.

Trong ngôn ngữ chúng ta, thường nói “nết ĂN Ở”, chứ không mấy ai “nết Ở ĂN”. Điều ấy Nguyễn Du chẳng xa lạ gì, nhưng nếu viết “Ăn ở thì nết cũng hay”, thì chữ thứ hai câu lục phải mang thanh trắc, trong khi câu lục này ngắt nhịp 2/2/2, đó là điều Nguyễn Du không chấp nhận. Lưu ý với bạn đọc rằng, trong "Truyện Kiều", tất cả những chữ thứ hai của câu bát đều thanh bằng, và có chưa đến 25 chữ thứ hai của câu lục mang thanh trắc, nhưng khi đó câu lục phải ngắt nhịp 3/3 chứ không thể theo nhịp 2/2/2 quen thuộc.

Với ba ví dụ kể trên, sự hoán vị hoặc là không thay đổi nghĩa của câu thơ, hoặc là có thay đổi nhưng bạn đọc tự chỉnh lấy mà hiểu được ý thơ. Tuy nhiên, có một số trường hợp hoán vị, không chỉ bạn đọc thông thường hiểu sai ý thơ, mà ngay cả một số người làm công tác hiệu đính "Truyện Kiều" cũng gặp sai lầm. Ví như khi giới thiệu Thúc Sinh: “Khách du bỗng có một người/ Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương”.

Có nhà nghiên cứu "Truyện Kiều" không chấp nhận chữ DU ở câu thơ ấy, và bảo tác giả đã dùng chữ Hán không đúng chỗ trong tác phẩm thơ Nôm. Và ông ta đề nghị phải sửa lại: “Khách CHƠI bỗng có một người…”. Nói về nghĩa, thì chữ DU trong chữ Hán đúng là tương ứng với chữ CHƠI trong chữ Nôm, nhưng thay đổi như vậy vào trường hợp này không giữ được nghĩa mà tác giả "Truyện Kiều" muốn dùng.

Ví nếu như nhà biên soạn kia, thì khi mới xuất hiện, Thúc Sinh đã là “khách chơi”, “khách làng chơi” rồi! Điều này không đúng. Thúc Sinh khi mới về Lâm Tri theo cha, là một chàng trai “nòi thư hương”, là “con nhà lành” nên khi đến lầu xanh còn tưởng Thúy Kiều là con của Tú bà kia mà! Chàng bắt đầu “hư” là sau khi đến lầu xanh, còn trước đó, Nguyễn Du gọi chàng là “khách du” chẳng qua là hoán vị hai chữ “du khách”, để tránh thanh trắc cho chữ thứ hai câu lục. Mà chúng ta biết rằng, cho đến ngày nay, thì “du khách” và “khách chơi” ý hoàn toàn khác nhau, nên không thể sửa chữa như nhà biên soạn kia được.

Sau khi nhặt được kim thoa của Thúy Kiều trên cành đào, Kim Trọng mang về nhà mình, Nguyễn Du nói trạng thái của chàng: “Liền tay ngắm nghía biếng nằm/ Vẫn còn thoang thoảng hương trầm chưa phai”.

Hai chữ “biếng nằm” nhiều bản "Kiều" không chú thích, còn bản của Đào Duy Anh giải thích biếng nằm là “không nằm”… tôi thấy không thỏa đáng. Đành rằng chữ “biếng” trong tiếng Việt có mang nghĩa là “lười”, là “khó” trong các cụm từ “biếng khuây”, “biếng ăn”, “biếng ngủ”… nhưng nó thường dùng để chỉ trạng thái của người ta trong một khoảng thời gian tương đối dài, chứ không phải là khoảnh khắc. Chàng Kim vừa nhặt được chiếc thoa về mà “không nằm” thì không có gì đáng nói, ví như đêm khuya, mải ngắm nghía mà “không nằm” thì đã đành, còn lúc này, không nằm cũng chẳng khác gì không ngồi, không đi… mà thôi.

Ta nhớ lại, trước khi đi ra khỏi nhà mình, sang vườn Thúy thì chàng Kim ngồi chơi đàn (Buông cầm xốc áo vội ra), chứ phải đâu lúc đó chàng đang nằm, để nói bây giờ chàng nhặt được thoa rồi thì không nằm nữa! Thế thì “biếng nằm” ở đây có nghĩa gì? Theo tôi, đấy là đảo ngữ của “nằm biếng”, một từ xưa nay rất quen dùng để chỉ trạng thái nằm mà không ngủ, không làm gì cả. Trạng thái “nằm biếng” rất phổ biến với các anh chàng học trò “dài lưng tốn vải”. Nghĩa là sau khi nhặt được chiếc thoa về nhà, chàng Kim đã nằm và ngắm nghía nó, có lẽ là hợp lý hơn!

Nhưng sự hoán vị trong "Truyện Kiều" gây hiểu nhầm nhiều nhất cho bạn đọc, có lẽ là câu kể chuyện khi gia đình Thúy Kiều sau bao công lênh tìm kiếm đã gặp được nàng bên ngoài ngôi nhà cỏ của Giác Duyên bên sông Tiền Đường. Giác Duyên dẫn đoàn về, gọi, Thúy Kiều bước ra, thấy đủ mặt một nhà, “Xuân già còn trẻ, huyên già còn tươi”, và:

Giọt châu thánh thót quẹn bào
Mừng mừng tủi tủi xiết bao sự tình
Vương bà dưới gối gieo mình
Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi
Từ con lưu lạc quê người…  
        

Nếu chỉ đọc qua mà không dừng lại suy xét thì hầu hết độc giả "Truyện Kiều" đều nghĩ chủ ngữ của động từ “gieo mình” là Vương bà, và lời kể lể tiếp theo cũng là lời của Vương bà! Ngay có bản Nôm cổ như Liễu Văn Đương 1871 cũng hiểu nhầm như thế nên chữ “gối” được viết để chỉ cái gối gỗ dùng để gối đầu (có bộ mộc), chứ không phải để chỉ đầu gối! Sự thật không phải như thế. Lúc này Thúy Kiều đã nghe lời gọi của Giác Duyên mà bước từ lều cỏ ra ngoài sân, ngoài vườn, nên không có cái gối nào ở đây cho Vương bà gieo mình cả. Thế thì câu trên có nghĩa là sao? Đây là do đảo ngữ, chứ thứ tự theo ngữ pháp phải là: “Gieo mình dưới gối Vương bà”! Câu chủ ngữ ẩn, chỉ Thúy Kiều.

Khổ cho chúng ta là sau khi bị đảo ngữ, thì Vương bà làm chủ ngữ không ai còn bàn cãi. Nếu như, đó không phải là một người, là như cây lim chẳng hạn: “Lim già dưới gốc gieo mình” thì không còn ai hiểu lầm cây lim kia là chủ ngữ cả! Những câu kể tiếp theo là lời Thúy Kiều, mà ngay câu “Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi”, thì rõ ràng không phải chuyện của Vương bà rồi. Hơn nữa, sau khi Thúy Kiều kể, thì Nguyễn Du tiếp: “Ông bà trông mặt cầm tay/ Dung quang chẳng khác như ngày mới xa…”. Một lần nữa khẳng định người “gieo mình” và “khóc than kể lể” trên kia chính là nàng Kiều.

Biết nhiều bạn đọc sẽ hiểu sai ý của hai câu này, trong bản “Đoạn trường tân thanh” xuất bản năm 1902, Kiều Oánh Mậu đã chỉnh thành: “Gieo mình dưới gối huyên đình/ Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi” vừa rõ nghĩa, vừa tránh được lặp vần của nguyên bản.

Trong "Truyện Kiều", đảo ngữ chỉ là một trong nhiều thủ pháp mà Nguyễn Du sử dụng để tạo ra cách diễn đạt mới. Ngoài đảo ngữ còn có thủ pháp tiểu đối, thủ pháp giản lược nhiều từ trong câu, để biến một câu văn xuôi dài dòng thành một câu thơ lục bát, nhưng khi muốn hiểu nghĩa, chúng ta buộc phải nghĩ tới các từ đã được giản lược. Đó là nội dung của một bài viết khác.

Rõ ràng đảo ngữ trong "Truyện Kiều" là thủ pháp làm giàu thêm tiếng Việt về mặt cú pháp. Chúng ta lưu ý đặc điểm này, để trong nhiều trường hợp nó sẽ giúp ta “giải mã” được những câu Kiều khó hiểu và tránh được những sự hiểu nhầm đáng tiếc. 

Vương Trọng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.