Thơ “phảng phất cách nói của người xưa”

Quyển sách cuối cùng trong đời văn nhà phê bình Hoài Thanh (1909 - 1992) là “Chuyện thơ...”, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1978. Chỉ với ba dấu chấm trong cái tên quyển sách mà đã có khối chuyện kể cũng thú vị, tôi từng có dịp nói đến, xin không nhắc lại ở đây.
  • Nhà văn và cá tính sáng tạo trong quan niệm của Hoài Thanh
  • Xuân Diệu, Hoài Thanh và dấu ấn của nhà lãng mạn
  • Nhà phê bình văn học Hoài Thanh: Nỗi oan không khó gỡ
  • Bước khởi nghiệp của nhà văn Hoài Thanh

“Chuyện thơ...” in ra không lâu, tôi có một bài phê bình dài, in trên Tạp chí Văn học (của Viện Văn học Việt Nam) số 3, năm 1979.

Trong bài của mình, khi bàn về vấn đề “Học xưa để làm mới trong thơ” mà Hoài Thanh đề cập, có đoạn tôi đã viết: “Thơ mà Hoài Thanh trích để bình, thường là những thí dụ tiêu biểu chứng minh cho nhận xét của ông. Hiếm hoi lắm, mới có những câu cho thấy, nếu đọc nhiều, thuộc nhiều hơn nữa, chắc ông còn dẫn được những thí dụ đắt hơn nữa. Chẳng hạn, khi ông trích mấy câu này của Thanh Hải:

Ôi mơ ước bốn nghìn năm
Dẫu ước mơ rất đẹp
Mẹ hỡi chắt chiu đâu biết có ngày nay
Ta đánh quân thù trên cả chín tầng mây
Như Đại Thánh đằng vân diệt bầy quỷ dữ.

Và cho là “rõ ràng... cách nói ấy phảng phất cách nói của người xưa” thì thật ra, có những câu “phảng phất cách nói của người xưa” hơn những câu ấy nhiều, có những câu học tập được cách nói của người xưa một cách sinh động hơn nhiều”.

Trong thư gửi cho tôi, sau khi đọc bài phê bình, ngoài những chỗ viết về những chuyện khác, Hoài Thanh có viết về đoạn văn trên đây của tôi như sau: “Tôi rất muốn anh mách cho một ít câu thơ phảng phất cách nói của người xưa hơn đoạn thơ Thanh Hải mà tôi đã trích. Trí nhớ của tôi bây giờ kém lắm nên không nhớ ra”.

Tôi cho rằng, đoạn thơ Thanh Hải mà Hoài Thanh trích chỉ là những câu mượn một ít từ ngữ của “người xưa” để “nói về” một chuyện của ngày nay, chứ không phải phảng phất “cách nói” của người xưa. Nhưng vì trước một bậc cao niên, tôi không tiện viết thẳng ra như thế (viết như trên đã là “quá” rồi). “Phảng phất cách nói của người xưa” hay là mượn cách nói của người xưa, học tập cách nói của người xưa, theo tôi, phải là những trường hợp khác, không giống đoạn thơ Thanh Hải.

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Chẳng hạn, ca dao nói:

Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà

Nhà thơ Thanh Tịnh thì viết:

Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Liệu còn thằng giặc đứng ngồi sao yên

(trong bài “Dân no thì lính cũng no”)

Chẳng hạn, ca dao nói:

Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

hay:

Thuyền về có nhớ bến chăng

nhà thơ Tố Hữu thì viết:

Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không...

                (trong bài “Việt Bắc”)

Lại nữa, khi nhà thơ Xuân Diệu viết:

Cha mẹ nói oan, quan nói hiếp
Mực mài nước mắt gửi người thương

                (trong bài “Lệ”).

Chắc hẳn nhà thơ đã nhớ đến những câu tục ngữ:

Cha mẹ nói oan
Quan nói hiếp
Chồng có nghiệp nói thừa

Khi nhà thơ Xuân Diệu viết:

“Anh nhớ thương ai đôi mắt lim dim”
Anh nhớ thương ai, anh nhớ thương em

                (trong bài “Anh nhớ thương ai”)

chắc chắn nhà thơ nhớ đến những câu ca dao:

Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi

Khi nhà thơ Xuân Diệu viết bài thơ “Biển” tuyệt hay (28 câu), mở đầu bằng những câu thơ này:

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê...

Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng...
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng...

chắc hẳn là ở đây đã “phảng phất cách nói của người xưa” - những người đã sáng tạo ra hát dặm Nghệ Tĩnh (chính nhà thơ sau này cho biết, trong bài thơ, ông đã “dùng nhiều vần thơ theo lối hát dặm Nghệ Tĩnh”). Đặc biệt là nhà thơ Nguyễn Bính. Rất nhiều cách nói của nhà thơ này “phảng phất cách nói của người xưa”.

Khi Nguyễn Bính viết:

Vai mang khăn gói sang sông
Tội trời thì chịu, theo chồng cứ theo

(trong bài “bức thư nhà”)

tôi chắc nhà thơ đã nghĩ đến mấy câu ca dao này:

Mẹ cha bú mớm nâng niu
Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng

Khi Nguyễn Bính viết:

Một vai gánh lấy giang san...
Còn vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương

(trong bài “Lỡ bước sang ngang”)

tôi chắc nhà thơ nghĩ đến mấy câu ca dao này:

Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang san nhà chồng

Khi Nguyễn Bính viết:

Võng anh đi trước võng nàng...
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò

(trong bài “Giấc mơ anh lái đò”)

tôi chắc nhà thơ nhớ đến mấy câu ca dao này:

Ước gì anh chiếm bảng vàng
Võng anh đi trước, võng nàng theo sau

Khi Nguyễn Bính viết:

Người xinh tính nết cũng xinh
Việc nhà đã thạo, lại tinh việc đồng

(trong truyện thơ “Trông bóng cờ bảy”)

tôi chắc nhà thơ nghĩ đến mấy câu ca dao này:

Người xinh cái nết cũng xinh
Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn

Khi Nguyễn Bính viết:

Năm xưa, đêm ấy, giường này...

(trong bài “Lỡ bước sang ngang”)

rất có thể nhà thơ nhớ đến một câu trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:

Tình duyên ấy, hợp tan này.

Khi Nguyễn Bính viết:

Vì chồng, tôi phải dầu hao bấc gầy

(trong bài “Thời trước”)

rất có thể nhà thơ nhớ đến mấy câu ca dao

Xin chàng đọc sách, ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu

Bất giác, lại nhớ thơ Trần Đăng Khoa thời nhỏ. Bài thơ rất lý thú “Đám ma bác giun” viết lúc Khoa mới chín tuổi (thật kỳ lạ!) không dài, tiện đây đọc lại cho vui:

Bác giun đào đất suốt ngày,
Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà.
Họ hàng nhà kiến kéo ra
Kiến con đi trước, kiến già theo sau

Cầm hương kiến đất bạc đầu
Khóc than kiến cánh khoác màu áo tang
Kiến lửa đốt đuốc đỏ làng
Kiến kim chống gậy, kiến càng nặng vai

Đám ma đưa đến là dài
Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà.
Kiến đen uống rượu la đà
Bao nhiêu kiến gió bay ra chia phần

Tôi đoán chắc, viết bài thơ này, Khoa đã học tập một cách sáng tạo những câu ca dao dưới đây, làm cho “Đám ma bác giun” có được “phảng phất cách nói của người xưa”:

Con cò chết rũ trên cây
Bồ cu mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Bao nhiêu cóc nhái nhảy ra chia phần
Chào mào thì đánh trống quân
Chim chích mặc quần vác mõ đi rao...

*

Trở lên là chuyện thơ “người nay” có “phảng phất cách nói của người xưa” theo cách nói của Hoài Thanh. Nếu như ta ngược trở lại thời trước - thời cổ đại, cận đại - cũng thấy chẳng những chỉ có “người nay” mà còn không ít “người xưa” cũng có nhiều câu thơ “phảng phất cách nói của người xưa” nữa.

Chỉ có điều, với không ít trường hợp, khó khẳng định được rằng người nào đã có thơ “phảng phất cách nói” của người nào. Các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương... có những câu thơ mà đọc chúng, ta nhớ ngay đến những câu tục ngữ, ca dao.

Một mặt, rất có thể các nhà thơ ấy được ảnh hưởng từ tục ngữ, ca dao; mặt khác, rất có thể những câu thơ của các nhà thơ ấy đã được dân gian sử dụng như những câu tục ngữ, ca dao của những tác giả dân gian khác mà ta không biết tên.

Chẳng hạn, ca dao có câu:

Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa

thì nhà thơ Nguyễn Trãi có câu:

La ỷ (lượt là) dập dìu, hàng chợ họp
Cửa nhà bịn rịn, tổ ong tàn

Ca dao có câu:

Thật vàng chẳng phải thau đâu
Đừng đem thử lửa cho đau lòng vàng

thì Nguyễn Trãi có câu:

Ngọc lành, nào có tơ vết
Vàng thật âu chi (ngại chi) lửa thiêu

Tục ngữ có câu:

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

thì Nguyễn Trãi có câu:

Đen gần mực, đỏ gần son

Lại nữa, ca dao có câu:

Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy

thì Nguyễn Du có câu:

Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

Lại như Nguyễn Du có câu:

Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

thì Tú Xương có câu:

Rằng hay thì thật là hay
Không hay sao lại đỗ ngay tú tài?...

Kể ra nữa thì còn nhiều, nhiều lắm. Trong thư trả lời nhà phê bình Hoài Thanh (bấy giờ nhà ông ở đường Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Hồ Chí Minh) tôi vẫn thẳng thắn nói rõ quan điểm của mình, và trích dẫn một phần những thí dụ nêu trên. Không thấy ông trả lời lại. Hay thư tôi bị thất lạc, không đến được tay nhà phê bình?

Hồng Diệu

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.