Thơ Nôm Nguyễn Trãi - Những triết lý sống mãi!

Bài "Chim hạc già" trong chùm "Môn cầm thú" của Nguyễn Trãi là lời con chim hạc cũng là lời người ở ẩn tự nói với chính mình rằng, thà sống nơi thâm sơn cùng cốc nhưng được tự do, chứ quyết không chịu sống trong cái lồng công danh lợi lộc.

  • Nguyễn Trãi - Tầm cao đạo lý, công lý!
  • Di sản thơ nôm Nguyễn Trãi: Kho báu của muôn đời

Câu cuối là một tiếng cười giễu: "Kham cười anh vũ mắc chưng lồng", có thể hiểu là: đáng cười con chim anh vũ (chim vẹt) mắc trong lồng, chỉ đáng để làm cảnh, để bắt chước, nói theo người.

untitled-1.jpg -1
Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi (1380 - 1442).

Trong thế giới thơ Nôm Nguyễn Trãi luôn hiện lên một chủ thể dằn vặt đến đau đớn về công danh, về chuyện hành tàng xuất xử, làm quan hay ở ẩn. Nhà thơ từng day dứt: "Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ/ Tay còn lọ hái cúc Uyên Minh" (Mạn thuật 9). Trong bài thơ "Phụng tặng Vi Tả thừa", Đỗ Phủ từng nói về tâm trạng chán ngán cảnh nhà Nho: "Nho quan đa ngộ thân" (Cái mũ Nhà nho khiến thân phải làm nhiều nên khổ). Uyên Minh tức Đào Tiềm từ quan về quê chăm hoa cúc. Như vậy, ý câu thơ sau của Nguyễn Trãi nên hiểu: Tay (ta) hãy còn, sao phải ở ẩn như Uyên Minh.

Nguyễn Trãi từng cảm thán cái hoàn cảnh trớ trêu của mình: "Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải" (Thủ vĩ ngâm). Hai chữ "công danh" xuất hiện nhiều lần trong "Quốc âm thi tập" như một minh chứng cho sự dùng dằng ở/về này. Không phải bởi yêu "công danh" mà có khi là cự tuyệt. Vì nơi "Cửa quyền hiểm hóc ngại chon chăn" (Mạn thuật 5). "Chon chăn", từ cổ nghĩa là thích thú lui tới. Câu thơ là một tiểu đối: vì nơi cửa quyền hiểm hóc nên ngại đến.

Nhưng "Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông". Chỉ có (bui) một tấm lòng trung hiếu với dân cuộn trào như sóng biển Đông nên đành phải ở lại chốn công danh để "trợ dân". Ông đã nhận thấy "Dưới công danh đeo khổ nhục/ Trong dại dột có phong lưu" (Ngôn chí 2), "dại dột" là phải làm quan, nhưng cũng "phong lưu" vì giúp được dân!

Đến khi không thể "phong lưu" mà giúp dân được nữa, ông quyết "Đem công danh đổi lấy cần câu" (Ngôn chí 8). "Công danh" thì nặng, "cần câu" thì nhẹ, thế mà quyết đổi vì quá hiểu sự thế nhiễu nhương, tình người đen bạc. Nhưng đổi để mà yên thân: "Phú quý bao nhiêu người thế gian/ Mơ mơ bằng thuở giấc Hòe An/ Danh thơm một áng mây nổi…" (Thuật hứng 18).

Lời thơ giản dị, chỉ có điển tích "giấc Hòe An" là cần chú giải: sách Nam Kha ký (đời Đường) có câu chuyện Thuần Vu Phần uống rượu dưới gốc hòe ngủ quên, mơ được đến nước Hòe An, lấy công chúa và làm thái thú quận Nam Kha. Tỉnh dậy nhìn thấy bầy kiến dàn quân giống như trong mơ. Thì ra phú quý cũng như giấc mộng mà thôi.

Câu tiếp rõ hơn: danh thơm cũng chỉ như áng mây nổi. Ở một bài khác, nhà thơ có nhắc lại ý này: "Phú quý treo sương ngọn cỏ/ Công danh gửi kiến cành hòe/ Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc/ Ngày tháng tiêu ma một bát chè" (Tự thán 3). Công danh phú quý đều trong trạng thái mong manh, phong lưu cũng chẳng có gì đáng giá, thời gian thì trôi nhanh. Hiện lên một chủ thể với tâm trạng buồn cùng một tiếng cười mỉa mai, chưa phải tiếng cười ra nước mắt nhưng đắng chát, lắng vào trong, ngậm ngùi.

Con người thi sĩ Nguyễn Trãi rất nhạy cảm với cái bi hài của cuộc đời. Ông cố gắng "Tiêu sái tự nhiên nhẹ hết mình/ Nài bao ngôi cả áng công danh" (Tự thán 8). "Tiêu sái" (tự do, không bị trói buộc) để nhẹ mình. "Nài bao" (cần chi) công danh. Nhưng dù cố quên, "áng công danh" vẫn cứ hiện hữu. Thậm chí, khi đã già, đã từng trải bao mặn nhạt đắng cay, có uống rượu để quên nhưng "công danh" vẫn cứ hiện ra: "Chông gai nhẹ đường danh lợi/ Mặn lạt no mùi thế tình/ Sách một hai phiên làm bậu bạn/ Rượu năm ba chén đổi công danh" (Tự thán 10).

Giải thích điều này thế nào? Có lẽ nên hiểu "công danh", đối với Nguyễn Trãi không gắn liền với lợi lộc mà là "công danh" để hành động vì dân vì nước, đúng với lý tưởng "Dành còn để trợ dân này". Cho nên có lúc ông tiếc nuối: "Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc/ Bia đá hay mòn nghĩa chẳng mòn" (Tự thán 17). Mượn tích Phạm Trọng Yêm đời Tống khi trọ học ở chùa ra vườn đào được cái chĩnh vàng bèn lấp đi vì sợ mang tiếng tham, ông như muốn nói rõ hơn: không tham danh lợi, mà tiếc không đủ danh để giúp dân giúp đời nhiều hơn!

Về bản chất, với mục đích vì dân, giúp dân, Nguyễn Trãi là người ham sống, ham làm. Trong bài "Thơ tiếc cảnh 6" có câu: "Chớ cười hiền trước rằng dại/ Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân" có nghĩa đừng cười người hiền xưa cầm đuốc chơi đêm là dại. Ý này tiếp thu từ Lý Bạch trong "Xuân dạ yến đào lý viên tự", có câu "Cổ nhân bỉnh chúc dạ du" (Người xưa cầm đuốc chơi đêm) nói về ngày xưa có tập quán đi chơi đêm. Ý nói hãy tận hưởng những thú vui ở đời, kẻo thời gian trôi. Nhưng đồng thời phải lao động miệt mài cùng sự suy ngẫm kỹ càng: "Nếu có ăn thì có lo" (Ngôn chí 19). Câu thơ nói về mối quan hệ hưởng thụ và trách nhiệm. Muốn có thành quả để hưởng thụ (ăn) thì phải suy nghĩ (lo) để làm ra thành quả ấy.

Trong chùm bài "Ngôn chí" cho thấy Nguyễn Trãi là một nông phu chăm chỉ, cần cù, giản dị, nhưng tao nhã như một vị tiên giả thoát tục. Là một nghệ sĩ với tâm hồn yêu cái đẹp luôn hướng về cái đẹp, Nguyễn Trãi triết lý về quan hệ giữa cái đẹp (hoa) với thời điểm (xuân) thật biện chứng: "Xuân muộn nào hoa chẳng rụng rơi" (Thuật hứng 14). Cái đẹp phải xuất hiện đúng thời điểm mới có người thưởng thức, mới được tiếp thêm sinh khí của môi trường, hoàn cảnh. Còn không thì ngược lại. Ông mượn cái đẹp để răn dạy về lối sống, cách sống phải giản dị, khiêm tốn: "Hoa càng khoe tốt, tốt thì rữa/ Nước chớ cho đầy, đầy ắt vơi" (Tự thán 15). Những ẩn dụ ấy không khó cắt nghĩa vì các hình tượng gần gũi, thường ngày, nhất là cách diễn đạt hóm hỉnh qua các vế mâu thuẫn dễ thấy.

image003.jpg -0
      Một tác phẩm quý của đại thi hào Nguyễn Trãi.

Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, nổi lên một mô hình nhà Ok986 tải ứng dụng rất đặc biệt. Tinh thần giáo huấn vốn đậm đà trong Nho giáo, nhưng với Nguyễn Trãi, giáo huấn theo một cách riêng, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, quan trọng hơn là phù hợp với tính cách, tâm hồn Việt: "Tích đức cho con hơn tích của/ Đua lành cùng thế mựa (chớ) đua khôn" (Thuật hứng 26). Càng ở thời văn minh hôm nay, khi vật chất ngày càng đầy đủ hơn thì lời dạy coi trọng đức độ, hòa bình, êm ấm hơn sự khôn ngoan, sắc sảo, càng phải được nhấn mạnh, đề cao.

Có những lời răn như dành cho hôm nay: "Cơm kẻ bất nhân, ăn ấy chớ/ Áo người vô nghĩa, mặc chẳng thà/ Khỏi triều quan mới hay ơn chúa/ Sinh được con thì cảm đức cha" (Trần tình 3). Ý thơ dễ hiểu: đừng đi theo, đừng a dua, a tòng, đừng phụ thuộc vật chất (cơm, áo) vào kẻ bất nhân bất nghĩa. Hai câu sau là quy luật quan hệ giữa cá nhân với hoàn cảnh. "Khỏi triều quan mới hay ơn chúa", ra khỏi hoàn cảnh mới đủ độ lùi về thời gian, không gian để tư duy về hoàn cảnh. "Sinh được con thì cảm đức cha" là quan hệ giữa các tư cách khác nhau: phải trải nghiệm qua nhiều tư cách (sinh con tức làm cha) mới thấu hiểu và thấu cảm về từng vị thế (cha/con)...

Như thầy giáo già hiền hậu, nhân từ căn dặn nét ăn nết ở cho trò: "Chớ đua khí huyết nên giận/ Làm mất lòng người những lo" (Bảo kính cảnh giới 39). Vì: "Nếu đua khí huyết quên nhân nghĩa/ Hòa thất nhân tâm nát cửa nhà" (Răn giận). Cũng là quy luật tâm lý, "đua khí huyết" tức nóng nảy, giận dữ thì mình bị tổn thương trước rồi tự đem cái "lo" phải ứng xử buộc vào chính mình. Người Việt có từ "hòa khí" rất hay, nhắc con người phải điềm tĩnh (chủ quan) mới giữ được cái êm đềm, nhẹ nhàng (khách quan). Nguyễn Trãi rất Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 là vậy. Ông còn dạy cách sống, lối sống cân bằng, nhẹ nhàng, từ tốn, lịch sự tránh xa sự chua ngoa: "Ở ngọt thì hơn nhiều kẻ trọng/ Quá chua liền úng có ai màng…/ Tính ở nhu hơn tính ở cương" (Bảo kính cảnh giới 19). Một lối sống hiền lành, chân thật: "Làm lành mới cậy chớ làm dữ/ Có đức thì hơn nữa có tài" (Tự thán 22).

Một nguyên nhân xuống cấp của Ok9 cab trò chơi casino phổ biến hôm nay là do có sự "đứt gãy" với mạch nguồn văn hóa truyền thống. Chúng ta học Nguyễn Trãi còn ít, cũng chưa hiểu hết tầm triết lý sâu sắc của Nhà Ok986 tải ứng dụng vĩ đại này. Ví như lời khuyên sau, nếu hôm nay ai cũng suy ngẫm và học theo thì Ok9 cab trò chơi casino phổ biến sẽ êm đềm hài hòa hơn: "Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp/ Cương nhu cùng biết hết hai bên" (Bảo kính cảnh giới 15). Người Việt có câu: "Một sự nhịn chín sự lành". Tôn Tử khuyên: "Tri kỉ tri bỉ" (Biết mình biết người). Chỉ hai dòng thơ cho thấy Nguyễn Trãi rất Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 và cũng rất nhân loại (phương Đông). Ức Trai tiên sinh gần gũi mà lớn lao và luôn rất mới!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.