Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi - những triết lý nhân thế!

Tình cảm cố hương trong thơ thời trung đại, có lẽ thơ Nguyễn Trãi nói sâu sắc mà đau xót hơn cả: “Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý/ Không tương huyết lệ tẩy tiên uynh” (Bao lần nhờ mộng tìm về làng cũ/ Chỉ biết đem nước mắt pha máu để rửa mộ tổ tiên - “Quy Côn Sơn chu trung tác”).

  • “Bến đò xuân đầu trại”, một kiệt tác văn chương của Nguyễn Trãi
  • “Bạch Đằng hải khẩu” - Kiệt tác văn chương của Nguyễn Trãi

Câu thơ triết lý đẫm nước mắt và máu, nước mắt của nhớ thương, máu của đau xót, cả chủ thể nhà thơ và khách thể người đọc, chỉ nguyên thủy một nỗi đau trong nghĩ suy về bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ với quê hương tiên tổ. Một nhân cách trước hết là phải có mối liên hệ máu thịt với nguồn cội, phải biết để tâm, day dứt, nhiều khi phải biết đau đớn về nguồn cội. Trường hợp Nguyễn Trãi là rất tiêu biểu!

nguyentrai.jpg -1
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) Anh hùng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 - Danh nhân văn hóa thế giới.

Khi Nguyễn Trãi triết lý về trí thức thì đậm tiếng cười cay đắng: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn” (Đời người biết chữ lại nhiều lo lắng hoạn nạn - “Mạn hứng”). Trí thức giàu con chữ nhưng nghèo tiền tài: “Thập tải độc thư bần đáo cốt/ Bàn duy mục túc tọa vô chiên” (Đọc sách mười năm mà nghèo đến xương/ Chỉ ăn rau muống, chỗ ngồi không chiên lót - “Ký hữu”). Mâu thuẫn này trước nay đều khó giải quyết, như một “định mệnh” với kẻ có học.

Cũng dễ giải thích: biết nhiều thì phải tư duy nhiều, biết nhiều thì khẳng khái, trung thực, không luồn cúi, không hạ mình. Kẻ biết tức là kẻ đã chứa đầy tri thức văn hóa nên không còn chỗ dung chứa cho những gì thiếu văn hóa. Kẻ có học thường là người quân tử, quân tử phải biết tránh xa tiểu nhân để giữ mình: “Kê trùng tự thử liễu tương tranh” (Gà bọ thôi tranh, kẻo hại thân - “Thu dạ khách cảm”). Chỉ có loài gà bọ mới tranh nhau vì miếng mồi, người quân tử luôn sống vì một lý tưởng nên càng phải tránh xa, xa miếng mồi chúng tranh nhau, dĩ nhiên phải xa cả loài gà bọ.

Dễ thấy ở Nguyễn Trãi con người nghệ sĩ lớn hơn con người Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá, hai con người này khi đắc thời thì tương hỗ nhau, khi sa cơ thất thế thì mâu thuẫn nhau. Nếu cứ sống bằng con người nghệ sĩ thì có lẽ yên ổn nhưng Ức Trai tham chính thì, chẳng phải là định mệnh, sớm muộn cũng chịu hậu họa theo quy luật khắc nghiệt nơi chính trường thời ấy, nhiều nghi kỵ ghét ghen, nhiều gièm pha tức tối, nhiều đố kỵ mưu toan...

Là nhà văn hóa lớn, hiểu biết nhiều, trải nghiệm lắm qua những được mất của thời thế và của chính mình, Nguyễn Trãi đúc rút một chân lý: “Truyền gia hà dụng mãn doanh kim” (Truyền cho con cháu cần gì phải có đầy vàng - “Mạn thành”). Ông lấy chính mình để nhắc nhở: “Hoạn tình dị khiếp thương cung điểu/ Mộ ảnh nan lưu phó hác xà” (Làm quan thì dễ bị khiếp như con chim bị cung bắn/ Bóng chiều khó giữ rắn vào hang - “Mạn hứng III”).

Đây là mối quan hệ hoàn cảnh và cá nhân, con người phải biết thích ứng với môi trường. Như môi trường “làm quan” thì phải hết sức cảnh giác như con chim biết sợ cành cong. Phải biết Ok986 tải ứng dụng con người đúng thời điểm, nếu không sẽ lỡ, như việc con rắn đến buổi chiều thì phải về hang, không thể ngăn nó lại được. Tức việc Ok986 tải ứng dụng phải đi trước, biết trước, làm trước, như một quy luật nhân quả mang tính phổ quát: “Dự tri hậu dật bản tiên lao” (Biết trước rằng muốn nhàn rỗi sau thì trước phải nhọc nhằn vất vả - “Hạ tiệp IV”).

Ok986 tải ứng dụng là việc lâu dài, bền bỉ: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật” (Họa phúc có manh mối không phải một ngày - “Quan hải”). Cũng từ hoàn cảnh của chính mình Ức Trai có triết lý Ok986 tải ứng dụng con người trong thời bình phải biết ơn nghĩa những bậc anh hùng đã hy sinh vì nước, đừng có kiểu: “Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu/ Thế gian na cánh sổ anh hùng” (Chỉnh đốn trời đất từ đó xong/ Thế gian không đếm xỉa đến bậc anh hùng nữa - “Đề kiếm”). Một tiếng cười cay đắng, cười ra nước mắt cảnh tỉnh con người không đi vào lối xấu bội bạc vô nhân: dù có là anh hùng cũng dễ bị thiên hạ quên đi nhanh chóng!

Ức Trai rất hay triết lý về cái chết, trông thấy đôi chim mà thèm chết như chúng: “Tiển sát hoa biên song bạch điểu” (Thèm chết như đôi chim trắng ở bên hoa kia – “Văn lập”), cũng là một triết lý về sự mất còn: “Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục?” (Chết rồi ai vinh với ai nhục? - “Côn Sơn ca”). Lấy hình tượng cái chết để xót xa cho những bi kịch kẻ trung lại vướng lụy mắc oan: “Gián chúa trung ngôn tử hậu tri” (Can chúa lời nói thẳng sau chết mới hay - “Thiều châu Văn hiến miếu”). “Trung ngôn nghịch nhĩ” đã đành, ở đây hơn thế “trung ngôn” còn chịu nhận lấy cái chết rồi mới được đời sau minh oan. Như một tiếng kêu của tận cùng bi kịch: hỡi con người hãy tỉnh táo để nhận chân sự thật! Văn học, nhất là thơ mang tính dự báo, tiên báo, thì câu này ứng vào bi kịch Ức Trai!

image003.jpg -0
Côn Sơn - nơi Ức Trai ẩn cư!

Nguyễn Trãi triết lý về bi kịch con người ta phải sống khác mình, bởi phải chạy trốn một sự thật, với ông thì là sự lánh nạn, cố xa lánh cái ác độc, đểu giả để mà yên thân: “Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng/ Lãm huy nghĩ học minh dương phượng/ Viễn hại chung vi tỵ dặc hồng” (Mặt gầy guộc mượn rượu cho hồng hào lên/ Muốn học chim phượng thấy sáng hót đón mặt trời/ Cuối cùng phải làm chim hồng tránh tên để lánh hại - “Họa hương tiên sinh vận giản chư đồng chí”).

Bài thơ này ông làm trong thời kỳ đang làm quan nhưng chán nản muốn xin về nghỉ. Câu đầu tả thực về hoàn cảnh phải sống giả: mặt gầy gò xanh xao nên phải mượn rượu cho hồng hào tươi tắn lên. Câu hai rút từ ý câu thơ của Giả Nghị đời Hán “Phượng hoàng tường vu thiên nhẫn hề/ Lãm đức huy nhi hạ chi” (Chim phượng bay trên cao nghìn nhẫn/ Thấy ánh sáng của Đức mà sà xuống - “Điếu Khuất Nguyên văn”) và lấy điển tích Lý Thiện Cẩm quan Ngự sử đời Đường dâng sớ can vua không xây cung điện xa hoa được người đời khen là “minh dương phượng” (chim phượng thấy sáng hót đón mặt trời).

Câu ba dựa vào tích “xa tung” vì sợ tên bắn mà chim hồng phải cao lên, là cách mỉa mai kín đáo: triều đình bây giờ đầy tên nhọn, nên “ta” (như) chim hồng phải bay cao mà lánh nạn. Tiếng cười này có lẽ là điển hình cho mỹ học châm biếm nho gia thường mỉa mai thâm trầm, kín đáo, chua chát, sâu sắc. Nguyễn Trãi có lúc buông xuôi. Ông chua chát buồn mà giễu cuộc đời và cả mình dù có tài năng, có vì dân, vì nước mà lo nghĩ thì rồi cũng chỉ như loài chồn chung một gò (trong “Mạn hứng II”).

Bài nhiều điển tích, “ảo nhãn” (mắt hoa) là nói về cuộc đời hư ảo; “tiêu lộc” (hươu lộc) lấy từ sách “Liệt tử” kể người nước Trịnh kiếm củi bắt được con hươu lộc chết bèn giấu đi lấy lá chuối đậy lại rồi quên mất chỗ giấu tưởng là chiêm bao; “tang cốc” từ sách “Trang tử” kể hai người chăn dê cùng mất dê, Tang mải miết tìm dê mà vẫn đọc sách, trong khi đó Cốc cứ chơi bài. Cuối cùng cả hai đều chết. Ý nói kẻ chăm người lười rồi đều sẽ như nhau. Bài thơ kết lại bằng câu: “Cổ vãng kim lai lạc nhất khâu” (xưa nay một loài như những con chồn thì cùng một gò), ý nói tất cả đều như nhau cả. Đây là tiếng cười mỉa bất lực tiêu cực hiếm gặp trong thơ Úc Trai.

Khi triết lý về hưởng lạc và sự nhàn dễ thấy Ức Trai chỉ hưởng lạc kiểu đi tìm hứng thơ trong đêm trăng khi đã xong xuôi mọi việc. Ông hưởng lạc cùng thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, lẫn vào thiên nhiên. Phê bình sinh thái văn hóa hôm nay nên tìm hiểu sâu vào mối quan hệ giữa Ức Trai tiên sinh và môi trường thiên nhiên thanh khiết đến vô trùng: “Nguyệt chiếu đài ky trúc mãn lâm/ Tẩy tận trần khâm hoa ngoại minh/ Hoán hồi ngọ mộng chẩm biên cầm” (Trăng soi trên ghềnh rêu, đầy rừng trúc mọc/ Để rửa sạch lòng trần có chè ngoài hoa/ Để gọi tỉnh giấc mộng trưa có chim bên gối – “Đề Trình xử sĩ Vân oa đồ”).

Càng về già ông càng thấy “Ta dư cửu bị nho quan ngộ” (Ta bị cái mũ nhà nho đánh lừa đã lâu) nên quyết trở về với thiên nhiên: “Tùng cúc do tồn qui vị vãn/ Lợi danh bất tiển ẩn phương chân” (Tùng cúc hãy còn ta về chưa muộn/ Lợi danh không thèm, ẩn mới đúng hơn”. Vì bản chất của ông là “Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân” (Ta vốn là người cày thanh nhàn, câu trong vắng vẻ). Ông thích sự tĩnh lặng, hòa mình với thiên nhiên: “Trú tĩnh càn khôn khoan đạo tứ/ Nhân gian danh lợi tỉnh sơ tâm” (Ngày lặng, trong trời đất rộng buông ý đạo/ Người nhàn tỉnh ngộ lòng danh lợi buổi ban đầu - “Hạ nhật mạn thành”).

Thơ Ức Trai hiện đại, càng ngẫm càng thấy như là nói với hôm nay, cho hôm nay, toát ra một triết lý chung: con người cần phải được Ok986 tải ứng dụng tử tế xa lánh cái ác cái xấu, gần gũi với thiên nhiên, cần sống chậm lại, sống trong thư thái để suy ngẫm đạo lý!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.