(Đọc tập "Tổng tập thơ chữ Hán Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ, NXB Hội nhà văn - 2020)

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du - chồng khít lên cuộc đời ông

LTS. Tháng 9 năm ngoái, chúng ta vừa long trọng kỷ niệm 200 năm ngày mất và 250 năm ngày sinh của đại thi hào Nguyễn Du. Đây thật là một dịp thích hợp để hậu thế, một lần nữa, "trả lời" câu hỏi đau đáu của đại thi hào lúc sinh thời: "Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?". (Ba trăm năm nữa, trong thiên hạ/ Ai người ngồi khóc Tố Như lang?).
  • Về thăm quê mẹ Nguyễn Du
  • Phim tài liệu Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 về Đại thi hào Nguyễn Du ra mắt khán giả
  • Hướng tới Lễ kỷ niệm ngày sinh, ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du

Nhân dịp này, nhà thơ Đỗ Trung Lai vừa cho in cuốn "Tổng tập thơ chữ Hán Nguyễn Du" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). Anh nói vui: "Việt hóa đi cho quân ta dễ đọc!".

Văn nghệ OK9 trang cược thể thao xanh chín nhất châu Á xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách này! Và, mời bạn đọc tìm hiểu cuốn sách qua bài viết sau đây của tiến sỹ Đỗ Anh Vũ.

Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại quê hương ông, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại quê hương ông, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. 

Cuốn sách cho chúng ta biết, sự nghiệp thơ của Nguyễn Du chia làm 2 phần:

1. Thơ chữ Hán: "Thanh Hiên thi tập", "Nam trung tạp ngâm", "Bắc hành tạp lục".

2. Thơ chữ Nôm, mà Truyện Kiều là kiệt tác.

Ở đây, chỉ xin nói về thơ chữ Hán của đại thi hào. Nguyễn Du để lại "khoảng" 400 bài thơ chữ Hán. Nói "khoảng" là vì nhiều khi, với cùng một tên bài, ông viết nhiều kỳ (Ví dụ bài "Điệu hát Trúc Chi viết ở Thương Ngô", có những 15 kỳ). Đó thật là một di sản lớn.

Qua thơ chữ Hán, nhân sinh quan, thời thế, gia cảnh, hành trang, tình cảnh và tình cảm của ông hiện ra rõ mồn một. Có thể nói, đời Nguyễn Du dường như "chồng khít" lên thơ chữ Hán của ông vậy.

Nguyễn Du xuất thân "Danh gia vọng tộc". Viễn tổ (Tổ 3 đời) của Nguyễn Du là Nguyễn Thiến, đỗ Đình nguyên, làm Thượng thư bộ Lại dưới triều Mạc.

Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ Hoàng giáp năm 1732, làm quan đến Tể tướng, Đại Tư không, Thái tử Thiếu bảo, tước Xuân Quận công. Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 con (12 con trai). Con cả là Nguyễn Khản, từng làm đến Tham tụng dưới trướng Chúa Trịnh.

Đến khi Tây Sơn đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802) và tuyên triệu các quan lại cũ của nhà Lê ra Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9, thi hào Nguyễn Du lần lượt nhận các chức: Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên), Đông các Đại học sĩ (ở Huế), Cai bạ Quảng Bình. Sau khi làm Chánh sứ đi Trung Hoa về, ông được thăng Tham tri bộ Lễ nhưng ông, trong thơ, tỏ ra không mặn mà gì với việc làm quan, thậm chí còn thấy ông luôn "than thở" về nó nữa!

Nguyễn Du viết khi ở Quỳnh Côi, Thái Bình: "Xa quê, gió bụi mười năm trọn/ Tóc bạc bơ phờ gửi cửa người". (U cư - Ở nơi vắng vẻ, kỳ hai).

Sau "Mười năm gió bụi" ấy, ông về ẩn ở Hồng Lĩnh và viết "Nam trung tạp ngâm". Thời gian ông sống ở Hồng Lĩnh, tuy vẫn nghèo nhưng tinh thần đã dần lạc quan hơn: "Mắt thấy việc đời như mây nổi/ Lưng đeo trường kiếm, gió Thu rơi/ Chuyện thầm với trúc ngoài sân vắng/ Sương tan, rồng sẽ hiện lên thôi". (Ký hữu - Gửi bạn); "Thời nhàn không xa đâu/ Hẹn trung châu tái ngộ!". (Biệt Nguyễn đại lang - Chia tay bác cả Nguyễn).

Thời thế lúc ấy vào trong ông mà sinh tình: "Thềm ngọc mười năm mờ cát bụi/ Bắc thành, một nửa hóa gò hoang/ Trùng nhát, chim hèn bay hết cả/ Càn khôn nhơ nhớp máu nhân gian/ Binh lửa, trông quê ngàn dặm khóc/ Bạn bè, thân thích ít thư sang/ Thu nhạt, cá rồng bơi lặng lẽ/ U hoài trăm mối, đập không tan". (Bát muộn - Đuổi sầu).

Gia Long triệu, ông ra, nhưng kể cả khi làm quan triều Nguyễn, con người ông vẫn vậy và "quan cảnh" của ông ở tân triều cũng chẳng vui gì! Tiêu biểu cho thời làm quan này là bài "Thu chí - Thu đến", viết ở Huế: "Hương Giang, trăng một phiến/ Cổ kim treo gọi sầu/ Cỏ buồn trên mộ cũ/ Thu mới, ta bạc đầu/ Thân gầy như thân lính/ Lưng khom không vì đau/ Bến Lam Giang nhìn lại/ Thẹn sai cùng bạch âu".

Nói đến nhân sinh quan, không ở đâu nhân sinh quan Nguyễn Du bộc lộ rõ như ở những bài thơ viết trên đất Trung Hoa trong "Bắc hành tạp lục", trên đường ông đi sứ. Ở đó, mọi sở học của ông đều có thể tung hoành: Sự am tường lịch sử, văn hóa - thi ca Trung Hoa, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 làm thơ Đường luật, những giá trị Nho gia chính thống, sự phong phú của chữ nghĩa, sự nhạy cảm - tinh tế của một nghệ sĩ lớn... giúp ngòi bút ông khoát hoạt hơn, gấm hoa hơn. Có lẽ cũng còn vì viết về Trung Hoa ở Trung Hoa, ông không phải e dè gì hết.

Kính trọng và thương xót Khuất Nguyên, ông viết: "Vườn "Đức" vắng Người hai ngàn năm/ Vẫn vương hương cỏ với hương lan/ Đứt ruột, ba năm đày khỏi nước/ "Sở từ", vạn cổ vẫn huy hoàng/ Sông lắm giao long, hình cốt mất/ Hoa cỏ càng thơm dọc bãi hoang/ Hút mắt không nhìn ra dấu cũ/ Lá vàng theo gió vượt Tương Giang!". (Tương Đàm điếu Tam Lư Đại phu - Đến Tương Đàm, viếng Khuất Nguyên, kỳ 1).

Với Đỗ Phủ, ông viết: "Cứ đọc "Mũ nho làm lụy thân"/ Lại khóc thương người đất Đỗ Lăng/ Văn chương sáng chói, dùng đâu nhỉ/ Con đói kêu dài, bỏ được chăng?/ Thiên hạ khen thơ thầy vạn thuở/ Tôi thương mồ lạnh chốn xa xăm/ Thuyền lẻ trên sông, Thu dào dạt/ Chiều Lỗi Dương về, sầu khôn ngăn!". (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ - Qua mộ Đỗ Phủ ở Lỗi Dương, kỳ 2).

Qua Thương Ngô, nhìn núi Cửu Nghi, nơi có đền thờ Ngu Thuấn, Nguyễn Du không thể không có cảm hứng với chuyện, khi Thuấn mất trong cuộc tuần du, hai bà vợ (Nga Hoàng và Nữ Anh - con gái vua Nghiêu) ra bờ sông Tương, vừa gảy đàn 25 dây (Nhị thập ngũ huyền cầm) vừa khóc, nước mắt hai nàng rơi xuống dây dàn, bắn lên rặng trúc bên bờ và từ đó, trúc sông Tương có hoa trắng lốm đốm rất đẹp, người ta chẻ trúc ấy làm mành, gọi là "Mành Tương", và ông viết: "Ngu Thuấn tuần Nam không trở lại/ Trúc xanh đọng mãi lệ Anh Nga/ Chuyện cũ ngàn năm còn để dấu/ Sử ký hiện hình trước mắt ta". (Thương Ngô tức sự - Gặp cảnh mà viết ở Thương Ngô).

Ông "truy kích" Mã Viện từ Việt sang Trung: "Được tiếng vua khen ngoài sân điện/ Đâu biết em mình buồn thế kia/ Đồng Trụ chỉ lừa nhi nữ Việt/ Xe ngọc chỉ làm con cháu nguy/ Họ tên hợp với Vân Đài các/ Sao ngoảnh về Nam đòi lễ nghi?". (Giáp Thành Mã Phục Ba miếu - Miếu thờ Mã Viện ở Giáp Thành, Kép, Bắc Giang).

Bìa cuốn sách "Tổng tập thơ chữ hán của Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ.
Bìa cuốn sách "Tổng tập thơ chữ hán của Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ.

Đến Nghiệp Thành, nơi có 72 ngôi mộ giả của Tào Tháo, ông "mắng" thẳng: "Nghiệp Thành, đồng bãi ngập hơi thu/ Cây cỏ tiêu điều, ngẫm chuyện xưa/ Trí lự một đời, sao uổng thế/ Hay chi? Vạn cổ đổ nghi ngờ/ Quách đầy tiếng xấu, còn chôn giấu/ Đời chửi lên xương cũng lặng tờ/ Cẩm thành, quanh miếu thờ Tiên chủ/ Tùng xanh, bách sáng đến bây giờ". (Thất thập nhị nghi trủng - Bảy mươi hai ngôi mộ giả). "Cẩm thành" chính là Thành Đô - kinh đô Thục Hán, "Tiên chủ" chính là Lưu Bị. Nguyễn Du trọng Lưu - khinh Tào.

Đến mộ Lưu Linh, một trong "Thất hiền" thời Đông Hán, "bợm rượu" nổi tiếng nhất Trung Hoa, ông "trêu": "Say, vẫn nói mình ngang vạn vật/  Sao lo thân xác lúc lìa hồn?". Nhưng rồi nhìn lại mình, ông tự hỏi: "Sao ta lấy tỉnh trông đời vậy?/ Để như bèo dạt, thật thương tình!". (Lưu Linh mộ - Mộ Lưu Linh). Có lẽ, ông đã "ngộ" lời Hứa Do, khi Hứa Do rửa tai, hai lần từ chối lời mời làm vua của Đế Nghiêu: "Danh chỉ là khách. Thực mới là chủ". Thật vậy, say - tỉnh, thành - bại, sang - hèn..., suy cho cùng cũng chỉ là danh. Thực có nhàn không (nhất là vui nhàn), với ông, mới là trọng!

Rồi ông viết về Hạng Vũ, Liêm Pha, Lạn Tương Như, Dự Nhương, Kinh Kha, Chu Du, Lý Bạch, Nhạc Phi, Tần Cối v.v... và v.v..., cũng với nhân sinh quan ấy.

Có thể nói, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, đặc biệt là ở mảng đề tài viết ở Trung Hoa, nhiều bài thơ của Nguyễn Du có thể xếp cùng vào thơ hay Đường - Tống!

Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Lai đã viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du dường như chồng khít lên cuộc đời của thi hào vậy!".

Ai yêu Nguyễn Du, chắc thích cuốn sách này.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.