Thi ca Bắc miền Trung – Nhìn từ cái hay, cái mới

Đỗ Lai Thuý đưa ra ba hệ hình tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại của thơ Việt Nam: "nghĩa -> chữ, chữ -> nghĩa, chữ <-> nghĩa". Ông cho rằng, ba hệ hình này luôn luôn gối tiếp nhau, trong đó, hệ hình tiền hiện đại đóng vai trò trung tâm, ảnh hưởng, chi phối đến hai hệ hình còn lại. Trong sáng tác của một tác giả, có thể tồn tại một hoặc nhiều hệ hình và có thể không lệ thuộc vào hệ hình mà tác giả đó đang sống.
  • Mưa trong thi ca Việt
  • Thi ca và tình đồng đội
  • Khi nhạc nhẹ xa rời thi ca

Nhiều cây bút có khi vừa đại diện tiêu biểu cho giai đoạn này vừa khẳng định ở giai đoạn khác. Khuynh hướng sáng tác của các cây bút đa dạng, phong phú và có cả sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Vì thế, không riêng gì cả nước, mà ngay trong sáng tác của các cây bút Bắc miền Trung, luôn có sự đi về giữa truyền thống và hiện đại, giữa cũ và mới. Vậy, trong sự gối nhau giữa truyền thống và hiện đại, cũ và mới, cái hay, cái mới của thi ca đương đại Bắc miền Trung được biểu hiện như thế nào?

Bàn về cái hay, cái mới

Thi sĩ là người luôn khao khát khám phá và mô tả cái tôi, biến nỗi niềm riêng tư của chính mình thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Khi nỗi niềm ấy chuyển hoá vào thơ, nó không còn là khoái cảm riêng của thi sĩ nữa mà đã trở thành khoái cảm chung của toàn nhân loại. 

Nhưng để thơ lan toả sức hấp dụ, trở thành nguồn khoái cảm của nhân loại, thi sĩ phải là người biết tìm ra lối viết riêng. Nỗ lực kiếm tìm lối viết riêng chính là nỗ lực kiếm tìm cái mới. 

Ở góc độ này, cái mới liên quan đến sự tồn tại và khả năng diễn giải, điều tiết của cái tôi. Ý thức khước từ, đả phá cái cũ đã có trong bản thân mỗi thi sĩ chứ không phải chắp nhặt từ bên ngoài. Cái mới là cái nảy sinh từ bên trong cái tôi bản thể của mỗi thi sĩ, cho nên, cách thức tạo cái mới cũng không ai giống ai.

Hội thảo văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Bắc miền Trung.
Hội thảo văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Bắc miền Trung.

Như thế, cái mới thể hiện ở sự viết và những ý tưởng mà thi sĩ chuyển tải trong đó. Cái mới đạt đến cái hay thì nó phải tạo được ấn tượng, hứng thú với độc giả. Cái hay lại đòi hỏi hay cả về nội dung lẫn hình thức. 

Giữa cái mới và cái hay, cái nào là ngọn, cái nào là gốc? Cái hay có phải chắc chắn là cái mới không? Có cái hay không mới, thậm chí cũ thì sao? Không những thế, đánh giá cái hay, cái mới còn tuỳ thuộc vào thị hiếu của từng giai đoạn. Có thể giai đoạn này là hay là mới, nhưng ở giai đoạn sau, cái hay, cái mới ấy lại không còn hay, không còn mới nữa.

Khó có thể rạch ròi tiêu chí giữa cái hay và cái mới. Bởi thơ ca hiện đại là dòng chảy của tiềm thức, vô thức. Dòng chảy mơ hồ, huyền ảo của cái bí ẩn bên trong, dòng chảy kì dị của giấc mơ,… Phải chăng vì thế mà thơ hiện đại khó nắm bắt, khó giải mã, khó đo lường, khó phân định? Phải chăng vì thế mà cõi thơ hiện đại là cõi thơ bất khả giải? Mà liệu có phải những gì bất khả giải đều không hay, tắc tị? Thực tế, có những bài thơ, đọc không hiểu, nhưng khó cưỡng lại sự quyến rũ và hấp dụ của nó.

Nhìn từ sự riêng khác

Tính 6 tỉnh Bắc miền Trung, từ Thanh Hoá vào đến Huế, chúng ta có một đội ngũ thơ ca hùng hậu, tài năng, sức sáng tạo dồi dào không thua kém gì hai đầu cầu, Hà Nội và Sài Gòn. Có thể điểm danh một số gương mặt như: Nguyễn Khoa Điềm, Thạch Quỳ, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Minh Khiêm, Lâm Bằng, Văn Đắc, Võ Quê, Văn Lợi, Lý Hoài Xuân, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà, Trần Thu Hà, Thái Hải, Nguyễn Thị Phước, Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Huy Trụ, Đinh Ngọc Diệp, Võ Văn Hoa, Võ Văn Luyến, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Nguyễn Thiền Nghi, Đỗ Thành Đồng, Phan Văn Chương, Trần Thị Huê, Đông Hà, Châu Thu Hà, Nhuỵ Nguyên, Phạm Nguyên Tường, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Fan Tuấn Anh, Lê Tấn Quỳnh, Lưu Ly, Thy Lan, Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hạnh Loan, Phạm Thùy Vinh, Nguyễn Thị Minh Thúy, Phạm Tiến Triều, Phong Lan, Lê Đáng,…

Thơ Bắc miền Trung đều nằm trên ba hệ hình: tiền hiện đại - hiện đại - hậu hiện đại. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, thơ Bắc miền Trung đa phần thuộc về hai hệ hình, tiền hiện đại và hiện đại. 

Nhiều sáng tác của các tác giả có sự giao thoa, ràng rịt giữa hai hệ hình này như Nguyễn Minh Khiêm, Đỗ Thành Đồng, Đông Hà, Nhụy Nguyên, Lê Vĩnh Thái, Phan Văn Chương, Trần Thị Huê,... Sáng tác của Hoàng Vũ Thuật, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Fan Tuấn Anh, Lê Tấn Quỳnh,... thì nghiêng hẳn về hệ hình hiện đại. Về hệ hình hậu hiện đại, chỉ rải rác ở một số sáng tác của các cây bút trẻ, hoặc cả một tập thơ như tập "Tơ sương" của Hồ Thế Hà.

So sánh thơ Bắc miền Trung với thơ cả nước, ngoài một số cây bút đã khẳng định phong cách, tên tuổi, nhiều cây bút trẻ đang không ngừng nỗ lực bứt phá, thể nghiệm đổi mới thơ. Thơ Lê Vĩnh Thái "kiệm ngữ/ đa nghĩa" và giàu hình ảnh. Thơ Fan Tuấn Anh rậm rịt lời nhưng triết lý sắc bén. Thơ Nhụy Nguyên thấm đẫm tinh thần và triết lý nhà Phật.

Bắc miền Trung không có kiểu thơ "rặt" phong vị vỉa hè, đường phố năng động, tự do, phóng khoáng, ''nổi loạn'' như Sài Gòn, hay thiên về trầm lắng, suy tư, tĩnh lặng như Hà Nội, nhưng Bắc miền Trung đã khảm vào thơ cái nôi của vùng đất địa linh nhân kiệt, đậm vùng miền mưa nắng khắc nghiệt, bão bùng lên trên nền thơ của cả nước, góp phần làm nên bản sắc, chất riêng trong dòng chảy thơ ca đương đại. Tiêu chí này cũng có thể xem là những nỗ lực tiến về vùng trung tâm và xoá bỏ những "thiên kiến vùng miền" của thi ca Bắc miền Trung.

Thực ra, so sánh và chỉ ra sự khác biệt trong sáng tác thi ca giữa các vùng miền chỉ mang tính chất tương đối. Đó là chưa tính sự ảnh hưởng, quen mà lạ của một số cây bút di cư, chuyển dời không gian sáng tác. Nhưng có một điều chúng ta không thể phủ nhận, không gian địa lý luôn ảnh hưởng sâu đậm đến không gian tinh thần của thi sĩ. Và tất nhiên, chỉ khi ý thức tự tôn về bản sắc vùng miền, xem vùng miền như là dòng máu đang chảy trong mình thì thi sĩ mới tạo được căn cước riêng khác.

Bắt nhịp thi ca đương đại

Đọc Hoàng Vũ Thuật, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Nguyễn Lãm Thắng, Phạm Nguyên Tường, Đỗ Thành Đồng, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Thị Huê, Fan Tuấn Anh, Lê Vĩnh Thái,… giá trị thơ của họ nằm ở đâu? Chúng ta xét cái hay cái mới thơ họ dựa vào tiêu chí nào?

Với tôi, cái hay, cái mới thực chất như hai mặt của một tờ giấy, đều được kiến tạo từ chính thế giới tâm hồn, sự thận trọng về mặt ngôn từ của thi sĩ, và kể cả những tác động từ phía độc giả. Chính những cuộc trình diễn tâm hồn trong sự đa chiều cạnh của không thời gian, trong lớp sương mù dày đặc của cõi vô thức đã đưa đến những khởi sắc, những ám tượng về mặt ngôn từ, gia tăng chất thơ. 

Và nhất là, miền đớn đau, mất mát, cô độc mà thi sĩ quăng/đẩy vào thơ bao giờ cũng làm dày/đầy giá trị cứu chuộc và tái sinh. Trong tận cùng cô đơn, tuyệt vọng, thi sĩ mới thực sự vật lộn kịch liệt với cái tôi để truy tìm bản thể. Và cũng chỉ có con đường này, nhà thơ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc.

Chúng ta có một Hoàng Vũ Thuật thường lạ hoá sự tưởng tượng của mình bằng nhiều đường gấp uyên ảo; một Hồ Đăng Thanh Ngọc đã tạo phong cách ở thơ tân hình thức, luôn nhịp nhàng hôn phối truyền thống trong cái nhìn cách tân bằng nhiều trò chơi ngữ ngôn đầy lý thú; một Nguyễn Lãm Thắng sẵn sàng rạch họng đêm để truy tìm bản thể chính mình và các mảnh ghép của cuộc sống; một Phan Văn Chương dùng tín ngưỡng, sắc màu của huyền thoại tái tạo bức tranh thuần khiết, giàu vẻ đẹp nữ tính, phồn thực; một Nguyễn Anh Tuấn không phải là người độc quyền thủ pháp "phúng dụ" nhưng anh biết dùng nó tạo dấu ấn riêng mình, phát huy tính kép, tính đa bội, tính bất ổn của các mã ngôn ngữ; một Lê Vĩnh Thái, cả tâm hồn lẫn con chữ đều đau đáu với tình yêu nguồn cội, cuộc sống, và các thi liệu ấy luôn được anh soi chiếu bằng điểm nhìn mới mẻ, tân thời.

Chúng ta cần thấy rằng, hiện thực cuộc sống là khởi nguồn của thi ca. Hay nói cách khác, thơ ca phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhưng hiện thực khi đi qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị quy chiếu, ảnh hưởng bởi những rung chấn phức tạp, bí ẩn của anh ta. Lúc này, nhà thơ không chỉ là người làm sống động hiện thực ấy mà còn phủ lên hiện thực ấy những mảng khối, sắc màu đa dạng, biến ảo. 

Do đó, để cảm được cái hay cái mới của thơ hiện đại, chúng ta cần tạo sự đồng cảm, cần thẩm thấu nó bằng linh cảm của trực giác, bằng kinh nghiệm uyên ảo của nội giới. Nhiều khi, hướng tiếp cận của người đọc vênh lệch, xa rời so với ý tưởng sáng tác của thi sĩ, điều này đã tạo ra sự thoả thuận mới, mà chúng ta ít thấy ở thơ truyền thống. Mỗi một sự thoả thuận là một hành trình đến với giá trị của thi ca.

Chúng ta không nên lấy một khuynh hướng sáng tác nào làm tiền đề đánh giá thơ. Mỗi thi sĩ đều có cách diễn đạt, tư duy khác nhau, miễn thơ làm ra hay, thể hiện được giá trị sống và giá trị người. Nói cách khác, thơ hay là thơ xếp chồng cảm xúc của thi sĩ lên cảm xúc của mọi người, rồi tiếp tục sóng đôi sự rung chấn ấy lên bạn đọc. Nhờ thế, "nhu cầu và khát vọng nhân sinh" trong thơ mới được trừu xuất một cách thẩm mỹ. Lúc này, sự không tách rời giữa tính nhân sinh và tính thẩm mỹ là thước đo sáng tạo, tiêu chí minh định cái hay của thơ.

Thi ca Bắc miền Trung đã và đang nỗ lực khẳng định và làm mới từ chất liệu đến thi tính. Những đổi mới, đột phá để tạo cái mới, cái hay trong một số sáng tác của các cây bút trẻ cũng ít nhiều cho thấy những ứng xử đẹp đối với thơ. Liên kết, nhập cuộc nhưng vẫn kiến tạo bản sắc và khác biệt.

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.