Chuyện bắt đầu từ nồi bánh chưng chiều ba mươi Tết, khi tôi lên năm tuổi. Nhà tôi có nền nếp gói bánh chưng vào sáng sớm ba mươi, luộc bánh vào buổi chiều, cho đến khoảng tám, chín giờ tối thì vớt bánh, tắm bánh vào nước lạnh, rồi ép cho ráo nước, cũng là để bánh được dền, được dẻo hơn, sau đó đặt cặp bánh đầu tiên còn nóng hổi lên bàn thờ tổ tiên chờ cúng Giao thừa. Suốt trong ngày cuối năm ấy, tôi không rời cha, từ việc ngồi bên giúp cha, xem cha gói bánh, đến khi cùng cha trông lửa luộc bánh, và cuối cùng là đứng bên cha, trước ban thờ, chắp tay vái tổ tiên, ông bà.
Những ngày cuối năm, xóm làng nào cũng rộn ràng đón Tết, không khí xay nếp, đụng thịt lợn, mua sắm quần áo mới chộn rộn khắp người lớn, trẻ con… Tôi chăm nghe ngóng tình hình đón Tết của từng nhà, rồi về mách với cha mẹ, nhưng cái chính là qua đó, để thăm dò xem nhà mình sẽ đón Tết thế nào, có chuẩn bị như nhà người ta không, có thua kém nhà ai khoản nào không, tôi có được mua quần áo, giày dép mới không. Tôi nhận thấy nhà tôi lúc nào cũng thua kém các nhà trong xóm về cái khoản số lượng bánh chưng. Cha mẹ giải thích rằng nhà tôi ít người hơn, ăn không hết, bánh có thể sẽ hỏng. Đành vậy. Nhưng tôi chưa bao giờ bằng lòng với cha mẹ về việc chậm gói bánh. Hai bảy, hai tám Tết, vài nhà trong xóm đã bắt đầu đón Tết với nồi bánh chưng lớn như một chiếc thùng phuy, có nhà họ luộc đến vài nồi bánh như thế, bảo rằng để ăn đến hết tháng Giêng. Trẻ con nhà họ xốn xang vui vầy từ khi ấy, nghe chúng đếm ngón tay và khoe um lên với nhau, tôi thấy tủi.
Chưa bao giờ tôi nài nỉ được cha mẹ thay đổi cái nếp luộc bánh chiều ba mươi. Tâm trạng của một đứa trẻ thèm khát mùi thơm bánh chưng trong tôi lúc nào cũng đầy tủi buồn, hờn giận. Vậy nên năm nào cũng thế, vào tối ba mươi, khi cha tôi tuyên bố rằng bánh đã chín và tiếng người vóng từ dưới bếp lên nhà, gọi các chị tôi mang vài cái rổ xảo to tướng xuống bếp vớt bánh, thì bao giờ tôi cũng nhảy chân sáo ngoài sân và thốt lên cái câu "A, Tết chín! Tết chín!" đầy hoan hỉ.
Nhưng cũng là bởi sự hoan hỉ ấy còn mang một nghĩa vô cùng hay ho nữa: Tôi sẽ được ăn tấm bánh muội còn nóng sút đầu tiên. Cha đặc cách cho phép tôi ăn bánh muội trước cả tổ tiên, ông bà, trước cả cha mẹ và các chị, vì tôi là con út, tôi được cưng chiều nhất nhà và tôi luôn là người mong mỏi nồi bánh chưng, mong "Tết chín" nhất nhà.
Cha tôi khéo tay, gói bánh không bao giờ cần khuôn. Đặt lạt đối xứng, cha xếp hai tấm lá dưới cùng, tiếp đến lớp lá nhỏ để "độn". Bốn tấm lá đẹp, vừa phải, được xếp đối xứng bên trên, cha gọi là "tấm áo" để gói gạo - áo này quan trọng nhất đối với chiếc bánh, phải chọn lá đều, không rách. Không bao giờ cha cần dùng kéo để cắt sửa một chiếc lá nào. Nếu lá có dài một chút, cha chỉ cần gấp đầu lá lại. Tấm bánh cha gói bao giờ cũng vuông thành sắc cạnh không chê vào đâu được và mười tấm như nhau cả mười.
Tôi hay đi xem các nhà gói bánh chưng và quan sát thấy nhiều nhà gói bánh bằng tất cả các nguyên liệu sống. Tức là gạo sống, đậu sống, chỉ được ngâm cho nở ra. Thịt để sống, ướp mắm tiêu, với hành sống. Nhưng ở nhà tôi, chỉ có hai thứ để sống, đó là gạo nếp ngâm nở, hành củ thái lát, và… tất nhiên là lá dong bánh mật tươi. Còn đậu xanh, mẹ đem đồ như đồ xôi, rồi giã nhuyễn, nắm lại từng nắm tròn. Cha định gói ba mươi tấm bánh, thì mẹ trù liệu lượng đậu, đồ lên, giã nhuyễn rồi nắm lại thành ba mươi nắm. Thịt thái to bản, dày miếng, ướp mắm tiêu rồi xào lên. Định mỗi gói bánh hai miếng thịt, là mẹ thái đủ chừng đó. Tất nhiên, bao giờ cũng có vài ba miếng thịt đặc biệt, một nắm đậu xanh lẻ ra, là cha mẹ có ý để dành cho tấm bánh muội của tôi. Cha bảo, thịt xào thơm, đậu đồ thơm, thì bánh mới thơm ngon được.
Bao giờ mẹ cũng giao tôi việc rửa lá, lau khô, tước bỏ phần gân cho mềm lá và cuối cùng là ngồi cạnh cha, vừa xem cha gói bánh, vừa để cha sai bảo khi cần. Phần thưởng ban đầu cho việc rửa, lau khô lá là tôi được vét chõ đồ xôi đậu. Và cảm xúc ngọt ngào run rẩy suốt buổi chờ cha gói bánh, trong tôi, là đếm cho đủ số bánh cha định liệu, và chờ khi tấm bánh muội xinh xắn được hoàn tất. Cha mỏi nhừ lưng, lòng khòng đứng dậy, hút thuốc lào và uống trà. Còn tôi giúp mẹ xếp bánh vào nồi, sau đó cùng mẹ trông bếp, lắng nghe "mùi Tết chín" lựng dần trong lửa ấm chiều cuối năm.
Cha mất năm tôi mười bảy tuổi, một mùa đông, giáp Tết, những cơn ho quặn thắt ruột gan và bệnh phù thũng đã cướp đi cha của tôi. Tôi chỉ có mười sáu cái Tết được cùng cha gói bánh chưng, và được ăn mười sáu tấm bánh muội - quà Tết đặc biệt cha dành riêng cho tôi. Mười sáu năm quá ít ỏi ấy, rưng lệ cả một đời người…