Sống là cho và chết cũng là cho

Phạm Tiến Duật là một đặc sản, không hề lẫn vào bất cứ giọng điệu nào của một Trường Sơn thời chống Mỹ thì Bút Tre - Đặng Văn Đăng cũng đã cất lên một phong cách thơ không hề lẫn với bất kỳ ai, thậm chí có thể tôn vinh ông là chủ soái của một trường phái thơ mang tên Bút Tre cũng không có gì là quá...

Sắp đến ngày giỗ Quốc tổ Hùng Vương (10/3) và cũng là dịp huyện Cẩm Khê, Phú Thọ hoàn thành hồ sơ gửi UBND tỉnh Phú Thọ xét cho phép OK9 đã banh Khu lưu niệm nhà thơ Bút Tre. Sáng 11/4, tại Trường Đại học Hùng Vương, UBND tỉnh Phú Thọ giao Trường Đại học Hùng Vương phối hợp với Sở VH - TT&DL, Hội Liên hiệp VHNT tỉnh và UBND huyện Cẩm Khê tổ chức Hội thảo Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 "Di sản Bút Tre" với chủ đề "Thân thế, sự nghiệp và sức sống của thơ Bút Tre, những vấn đề nghiên cứu và giải pháp bảo tồn - phát huy". Đây là lần đầu tiên có một cuộc hội thảo sâu, rộng, nhiều mặt về nhà thơ Bút Tre...

Đôi khi tôi cứ lẩn thẩn rồi ngồi lan man nghĩ rằng nếu cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta mà không có thơ Tố Hữu và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà không có thơ Phạm Tiến Duật thì hình như nó còn thiêu thiếu một điều gì đó.

Lại lan man nghĩ tiếp, mặc dù đang còn tồn tại nhiều ý kiến khen chê nhưng nếu trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt đó, với khẩu hiệu: "Tất cả vì tiền tuyến"; "Mỗi người lao động bằng hai"; "Tiếng hát át tiếng bom"; "Ba sẵn sàng" rồi "Ba đảm đang"… Mọi nguồn lực đều dồn ra tiền tuyến. "Dân có thể đói nhưng bộ đội thì phải ăn no còn đánh giặc".

Với quyết tâm và trong không khí lao động, sản xuất đó, rồi trong các cuộc vui, trong những lần mệt mỏi đường dài hành quân, những lần hội họp "bình dân"… chúng ta không có thơ Bút Tre thì tin rằng cái đói sẽ đói hơn, cái rét sẽ càng rét thêm, cuộc vui sẽ kém vui… Chính tinh thần: "Tiếng hát át tiếng bom" do chính Bút Tre khởi xướng rồi cả nước cùng làm theo cứ tưởng là không liên quan đến thơ ông nhưng tôi nghĩ đó chính là tuyên ngôn thơ của Bút Tre.

Xét đến tận cùng, thơ Bút Tre phần nhiều là để tuyên truyền, vận động mọi người, mọi nhà hăng say sản xuất. Cái lõi của vấn đề ở đó nên thơ ông thường nôm na, dễ đọc, dễ thuộc, dễ gây cười vào đặc biệt là… dễ lây lan. Nếu như Phạm Tiến Duật đi sâu vào cuộc chiến, đến từng công sự, đi dọc chiến hào, lăn lộn trên mọi tuyến lửa của con đường Trường Sơn huyền thoại để viết, để ngợi ca, cổ vũ những người lính đang trên đường ra trận, trực tiếp cầm súng, thì ở hậu phương, Bút Tre cũng đi sâu, đi sát đến từng mái nhà, ngõ xóm để khuyến khích, vận động từng người, từng nhà chăm lo, hăng hái sản xuất để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Hội thảo Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 "Di sản bút tre" tại Trường Đại học Hùng Vương - tỉnh Phú Thọ.
Hội thảo Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 "Di sản bút tre" tại Trường Đại học Hùng Vương - tỉnh Phú Thọ.

Phạm Tiến Duật là một đặc sản, không hề lẫn vào bất cứ giọng điệu nào của một Trường Sơn thời chống Mỹ thì Bút Tre - Đặng Văn Đăng cũng đã cất lên một phong cách thơ không hề lẫn với bất kỳ ai, thậm chí có thể tôn vinh ông là chủ soái của một trường phái thơ mang tên Bút Tre cũng không có gì là quá.

Hai ông lớn, Phạm Tiến Duật và Bút Tre đều là những người con của miền đất Tổ Phú Thọ. Cho đến nay, Phạm Tiến Duật có lẽ chỉ có một là duy nhất đóng đinh tên mình vào con đường Trường Sơn huyền thoại, còn Bút Tre thì đã có trăm ngàn bút tre và còn nhiều hơn thế nữa.

Bút Tre nhiều hậu duệ đến nỗi bây giờ nếu không phải là người gần ông thì sẽ không thể phân biệt được ai, thơ nào là của tác giả và thơ nào của tác thật. Đã có nhiều lý giải về hiện tượng con đàn cháu đống của hậu duệ Bút Tre nhưng tôi nghĩ rằng, trong nhiều lý do thì lý do sát đúng nhất có lẽ là thơ Bút Tre đã tiệm cận sát đúng nhất đến mạch nghĩ, cảm quan và lời ăn, tiếng nói của tầng lớp nông dân - bình dân. Chính vì thế mà thơ Bút Tre tồn tại, phát triển và sẽ còn trường tồn vì tiếng cười vui sống trong dân gian sẽ không bao giờ tắt khi còn những người lao động. Vì chỉ có tiếng cười trong lao động mới là tiếng cười hồn nhiên, sảng khoái nhưng không kém phần thâm thúy nhất.

Tôi nghĩ môi trường diễn xướng trong thơ Bút Tre gần với truyện Tiếu Lâm. Thường thì người ta đọc truyện Tiếu Lâm tủm tỉm cười một mình và sau đó hễ có dịp đông người (nếu có thêm phụ nữ nữa càng tốt) thế là họ kể chuyện Tiếu Lâm. Từ một câu chuyện của một người kể ban đầu, sẽ kéo theo nhiều câu chuyện kể khác, tạo nên tiếng cười tập thể. Thơ Bút Tre cũng thế, người khởi xướng sẽ đọc một vài câu thơ theo trường phái Bút Tre, sau đó rất nhanh sẽ có người ứng tác ra những câu thơ theo trường phái đó. Ở đây ta thấy, những câu thơ ban đầu của Bút Tre như là những khuông nhạc, những người sau chỉ cần thay lời sẽ được những bài hát mới. Chúng ta đọc mấy câu thơ sau là ai cũng nghĩ ngay đến Bút Tre, nhưng bản thân người viết cũng không thể biết được đâu là thơ của Bút Tre - Đặng Văn Đăng và đâu là của những Bút Tre khác: 

Thi đua ta quyết tiến lên
Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu
Hàng đầu không biết đi đâu
Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi.

Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên lẫy lừng.

Làng ta có cái núi voi
Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi
Voi cũng hăng say đua sản xuất
Đầu thì trồng sắn, đít trồng khoai.

Phụ nữ thường rất hay lươi
Riêng em anh thấy là người cần cu (cần cù)

Một lần đến nghỉ Tam Đao
Loanh quanh không biết chỗ nào để ngu

Một giường bố trí hai cù
Mỗi cu kiếm một cái mu gối đầu.

Ngày nay khắc phục gian kho
Ngày mai mới có ấm no tương lài.

Liên Xô rất đỗi tự hào
Anh Ga-ga-rỉn bay vào vũ tru.

Mời anh vào quán kara
OK em đã mở ra sẵn sàng.

Mấy em mặc váy đánh cầu
Lông bay phất phới trên đầu các anh.

Tại vì em chẳng có kinh 
Nghiệm nên không thể một mình giúp anh.

Bút Tre giỏi tiếng Pháp, đọc thơ Pháp và dịch được cả thơ Pháp. Ông từng học Trường Bưởi rồi đi dạy học, viết văn, viết báo nên nếu nói Bút Tre không biết làm thơ và làm sai thơ thì chắc không đúng. Có thể ban đầu trong những câu ứng khẩu, ông đã ứng ẩu, ứng vội nhưng sau đó thì rõ ràng ông đã có chủ ý muốn làm một lối thơ riêng, không giống ai.

Điều này chúng ta thấy rất rõ khi ông bị những thầy cô giáo dạy văn ở một trường cấp ba của tỉnh nhà làm một cuộc "hội thảo" để chê thơ ông, ông vẫn vui cười, hay có lần ông bị nhà thơ Tố Hữu và Hà Xuân Trường triệu lên muốn chấn chỉnh và "giảng mấy đường cơ bản về thơ" cho ông thì ông đã nói: "Các anh làm thơ bác học, còn tôi thì làm vè tuyên truyền ở địa phương Phú Thọ thôi". Ông tự nhận những gì mình làm chỉ là vè và chỉ phổ biến khu biệt ở vùng Phú Thọ thôi và ai muốn đọc thì đọc, còn không muốn đọc thì thôi.

Ông nhận thế nhưng hình như không phải thế, ông vẫn làm theo cái lối thơ vè đó, để đến ngày nay thơ vè của ông không chỉ ở Phú Thọ mà đã lan ra cả nước, thậm chí là ra cả nước ngoài. Và tôi tin nơi nào có người Việt OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á thì ở đó trường phái thơ Bút Tre tồn tại và phát triển.

Thơ của cả ba ông lớn Tố Hữu, Phạm Tiến Duật và Bút Tre về cơ bản đều dễ đọc, dễ thuộc và dễ hiểu. Tố Hữu là đại biểu thơ tiêu biểu, phù hợp nhất với thời kỳ chống Pháp, Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn thời chống Mỹ và Đặng Văn Đăng đương nhiên là chủ soái của một trường phái thơ mang tên Bút Tre.

Thời nào, thế hệ nào cũng có nhiều người làm thơ, chính vì thế khi đã có một Tố Hữu rồi thì không cần phải có thêm một Tố Hữu - Đặng Văn Đăng nữa. Sở dĩ nói vậy là vì chúng ta đã thắng Pháp, thắng Mỹ. Và vai trò nhà thơ chiến sĩ của Phạm Tiến Duật và Tố Hữu đã hoàn thành, còn với Đặng Văn Đăng hình như trên vai ông vẫn còn gánh vác một trọng trách vô cùng to lớn - đó là đưa tiếng cười đến với mọi người để mọi người vui sống, lao động và sáng tạo. Mà còn con người, còn lao động sáng tạo thì sẽ mãi còn tiếng cười.

Người xưa nói: "Con chim sắp chết hót tiếng hay, con người sắp chết nói lời phải". Để kết thúc bài viết này, tự nhiên tôi muốn giới thiệu ba bài thơ cuối cùng của ba nhà thơ đã nêu trên để bạn đọc cùng suy ngẫm.

Tố Hữu:

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất/ Còn mấy vần thơ, một nắm tro/ Thơ gửi bạn đường, tro bón đất/ Sống là cho và chết cũng là cho.

Phạm Tiến Duật:

Em là tia nắng

Sinh ra cùng với mặt trời /Em là tia nắng vùng đời của anh/ Nửa đời anh chẳng êm lành/ Quầng bom lửa đỏ, da xanh sốt rừng/ Mùa mưa em có biết không/ Triền miên 6 tháng ròng ròng toàn mưa/ Chồn chân trong khoảng rừng thưa/ Lán bộ đội bấy sáng trưa nhớ… trời./ Sinh ra cùng với mặt trời/ Em là tia nắng vùng đời của anh /Đường dài có lúc gập ghềnh/ Túi không em phải một mình nuôi con/ Khổ nào bằng khổ cô đơn/ Mà em vẫn một tấc son tự hồng/ Ai người biết thuở tay không/ Mà gương mặt vẫn tươi hồng nét xuân/ Qua rồi cái thuở gian truân/ Đích xa mà lại thấy gần em ơi/ Sinh ra cùng với mặt trời/ Em là tia nắng vùng đời của nhau.

Còn Bút Tre khi nằm nghe tiếng đục, tiếng chàng của thợ mộc đang đóng quan tài cho mình, ông đã làm hai bài thơ. Xin giới thiệu bài thơ cuối cùng của ông:

Tôi dặn tiễn tôi xuống suối vàng/ Thưa kèn, giảm trống chẳng đò ngang/ Cơ quan, Ok9 cab trò chơi casino phổ biến ngừng phúng điếu/ Họ hàng thân thuộc chút khăn tang.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.