Rủ nhau lên chốn Sài Gòn

Dẫy núi Sài Sơn ở làng Sài (Quốc Oai - Hà Nội) được gọi là núi Thầy. Nguồn gốc bởi thiền sư Từ Đạo Hạnh đã dựng chùa tu luyện trên núi. Ngài chữa bệnh cứu người và còn dậy dân quanh vùng đan lát, làm nông cụ. Chẳng những thế mà ngài còn nghĩ ra trò rối nước và truyền lại cho bà con. Ai cũng gọi ngài là thầy. Dân làng cổ Sài Sơn cũng thích cái tên này.

  • Bích Câu – Hồn bướm mơ tiên

Cổ tích tình yêu

Dãy núi Thày tự nhiên sinh ra những hang động bí ẩn cùng những huyền ảo truyền kỳ. Có lần nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã tìm đường vào hang Cắc Cớ cheo leo lưng núi, dốc sâu thăm thẳm. Con đường độc đạo có nhiều bậc đá xinh xinh dẫn bước chân nữ sĩ run rẩy trong ánh sáng le lói. Một bức tượng thần đá nằm sâu trong vách hang. Dân làng vẫn gọi là “Tượng Cậu”.

Hang rộng có vòm cao và cửa gió lùa trên khe núi tạo nên âm thanh như sáo nhạc du dương. Ánh sáng chiếu rọi xuống đỉnh trưa như một cột nắng trồng từ đáy hang sâu chừng ba mươi mét. Tượng Cậu còn được ví von là thần ông tơ xe duyên đôi lứa. Ai đến cầu tình là sẽ gặp tình. Kẻ đến cầu duyên ắt sẽ thành đôi lứa vào hội tháng Ba.

Rủ nhau lên chốn Sài Gòn -0
Đường lên núi Thầy.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã lần mò theo lời dặn lấy hai tay xoa vào ngực tượng để mong cầu tình yêu. Trong lòng nữ sĩ bồng bềnh như vòm mây trên cửa trời. Thi hứng trào dâng khi nữ sĩ ngắm khe núi qua ánh sáng diệu kỳ tạo hình kỳ thú: “Trời đất sinh ra đá một chòm/ Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom/ Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn/ Luồng gió thông reo vỗ phập phòm/ Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm/ Con đường vô ngạn tối om om/ Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc/ Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm” (Vịnh hang Cắc Cớ). Cũng từ đó lắm cô cậu bí mật tìm đường lên núi để xuống hang cầu duyên. Họ xoa tim tượng và mơ về đôi mắt xa xăm nào đó. Câu ca dân gian: “Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ/ Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy” cũng xuất hiện từ đây.

Hang Cắc Cớ còn gọi với cái tên là động “Thần Quang”. Động có am thờ Thần quỷ sâu dưới đáy. Thần có nhiệm vụ trông coi cổng trời ngăn không cho hiểm họa rình rập. Hồn người chết được thần chọn lựa với những ai phúc hậu sẽ được đưa lên thiên đường, còn không sẽ phải xuống địa ngục. Bên vách hang vẫn còn một bể xương người tử thuở hồng hoang tích lại.

Hàng ngàn di cốt được chôn vùi dưới đáy sâu. Nghe nói đó là hồn cốt của hàng ngàn binh sĩ đã tử trận đánh quân Hán do tướng quân Lữ Gia chỉ huy (xảy ra 111 năm TCN). Khi ấy nước biển còn mênh mang cắt ngang sườn núi. Trận thủy chiến đẫm máu đã diễn ra nơi đây. Chính vì thế hang Cắc Cớ đã ẩn chứa “Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi” dưới đáy sâu. Hang còn được ví là 9 tầng địa ngục bởi lẽ ở dưới đó còn những ngách hang dẫn sâu xuống lòng đất. Ngày đêm gió rít lạnh buốt chân tóc.

Nhưng giờ đây Tượng cậu đã ngự trị xe kết những mối duyên tơ. Tất cả quỷ ma đã lùi sâu vào dĩ vãng. Vào lễ hội, nam thanh nữ tú luôn dìu nhau lên núi rồi xuống hang. Thuyền rồng dưới hồ trong sôi động lời ca như cánh buồm bay lên cao. Câu hát văn quen thuộc say đắm lòng người. Ai nấy mơ màng theo lời ca: “Rủ nhau lên chốn Sài Sơn/ Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình/ Hỏi non, non những làm thinh/ Phải chăng non đã vô tình với ai?/ Nước non ví chẳng chiều đời/ Mắt xanh đâu lễ phụ người tình chung/ Yêu nhau ta dắt nhau cùng/ Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu” (Thơ của Nam Á Trần Tuấn Khải). Tiếng đàn nguyệt bay lên như gió cuốn nồng nàn.

Hồn thơ non xanh nước biếc

Chùa Thầy được thiền sư Từ Đạo Hạnh dựng đã cả ngàn năm (từ thời Lý). Nơi đây thanh tịnh trong mây cuốn bao la từ phía Tây Thăng Long thành. Hình ảnh khắc họa cuộc đời thiền sư đã ghi dấu bao đời qua: “Chùa xưa ở lẫn trong cây, đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây”. Phong cảnh Sài Sơn trên hồ nước xanh trong vời vợi: “Bút cuốn khói mây mười sáu ngọn/ Mắt thu non nước vạn trùng khơi”.

Nhiều bậc nho sĩ danh nhân đã tới đây thưởng ngoạn và để lại những áng thơ cảm tác núi non. Trong đó, không ít tác phẩm đã được khắc bia đá trên vách núi cheo leo. Tướng công Phùng Khắc Khoan (trạng Bùng) đã cho xây hai chiếc cầu Nguyệt Tiên kiều và Nhật Tiên kiều để vào chùa. Ngài hoạt bút trong vạn cảnh bao la: “Bước chân đi khắp trần gian/ Bàn tay sắp đặt muôn vàn vì sao/ Thử cầm chổi quét vách rêu/ Thành thơ bút để đi vào núi sông”.

Rồi nữa, Nguyễn Trung Trực, hay danh nhân Ngô Thì Sĩ, hoặc Phan Huy Ích, lại còn thêm Thần Siêu - Thánh Quát cùng Hồ Xuân Hương… đều đã về họa thơ núi Thầy. Đặc biệt vua Lê Thánh Tông, vị tao đàn nguyên súy đời Hồng Đức thứ 7 đã ung dung khắc lên cổng trời một áng thơ xuân: “Bầu trời thú lạ cũng nhiều nơi/ Chẳng thú đâu hơn thú chợ Trời/ Sáng sớm mưa tan trưa nắng đứng/ Chiều hôm mây họp tối trăng chơi”.

Thiền sư Từ Đạo Hạnh tạo dựng không gian Phật pháp lắng đọng hồn sông núi. Tiếng chuông chùa thỉnh khi bình minh lên và hoàng hôn buông xuống. Ấy là khi mây tan trên thinh không ôm tròn bóng nắng. Và mây lại tụ về trên cây đại già nua ngàn đời thơm ngát hương hoa. Non nước diễm huyền trong sương ẩm ướt. Dân làng Sài Sơn ai cũng nhớ mùa thu 1941, lần đầu tiên lá cờ đỏ búa liềm phất phới bay trên đỉnh chợ Trời. Ngọn lửa cách mạng sớm bừng lên từ mảnh đất thần thánh này. Rồi những ngày Toàn quốc kháng chiến (1947), Bác Hồ đã dừng chân nơi đây một thời gian tại chùa Một Mái (trên núi Thầy).

Rủ nhau lên chốn Sài Gòn -0
Liền anh, liền chị bên hồ Rồng - Chùa Thầy.

Sau hòa bình lập lại, Bác quay về chùa Thầy đúng vào ngày 19/5/1959. Hình ảnh một thuở kháng chiến bên vách đá vẫn còn ghi: “Ngọn đèn dầu còn tỏa sáng đêm xuân/ Tiếng máy chữ còn vang vách đá/ Hang hút gió ba mươi đêm sương giá/ Kháng chiến chín năm/ Bác viết những chương đầu/ Sài Sơn-Sài Sơn” (Đào Ngọc Chung). Nhà thơ Xuân Thủy, chủ bút Báo Cứu Quốc cũng từng về đây hoạt động. Một thời gian từ giã núi Thầy lên Việt Bắc ông bùi ngùi lưu luyến: “Ngờ đâu vội vã chia tay/ Bạn ơi sông Giá - núi Thầy nhớ nhung/ Sông kia chưa thỏa vẫy vùng/ Núi kia biết mặt anh hùng là ai/ Nào đâu hang gió, Chợ Giời/ Nào đâu nước bạc trăng soi mái thuyền”.

Có thể nói núi Thầy còn được gọi là núi Thơ. Tiếng vọng thi nhân bao đời nay đã gửi gắm với non nước Sài Sơn. Ngày ngày mỗi khi tiếng chuông ngân nga là hồn thơ bảng lảng cùng mây bay lên đỉnh núi. Không ai không nhớ đến sự khơi gợi qua những câu thơ Quang Dũng sâu lắng nhớ thương hẹn hò: “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng/ Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sao diều khuya khoắt thổi đêm trăng” (Đôi mắt người Sơn Tây). Câu ca dao xưa bao nỗi hẹn hò hội lễ xuân về: “Nhớ ngày mồng bảy tháng ba/ Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”. Sự liên quan tới hội Láng cùng ngày bởi một lẽ cha của thiền sư Từ Đạo Hạnh là ngài Từ Vinh đã từng xuất gia đầu Phật. Sau ngài làm quan lớn và lấy vợ ở làng Láng. Ngôi nhà của gia đình quan Từ Vinh chính là chùa Láng ngày nay.

Truyền kỳ Sư Thầy hóa Vua

Tương truyền thiền sư Từ Đạo Hạnh thông tỏ pháp thuật nên khi tới dựng chùa trên núi, ngài chuyên trị bệnh cho dân tứ xứ. Y thuật của thiền sư nổi danh khắp vùng và tin đồn lan tới kinh thành. Khi ấy một người con của vua Lý Thánh Tông (1054-1072) là Sùng Hiền Hầu cầu tự khắp nơi mà không có con nối dõi bèn vời thiền sư vào cung. Từ Đạo Hạnh nhận lời và dùng pháp thuật đã tu luyện bao năm để cứu chữa cho phu nhân Sùng Hiền Hầu được đậu thai nhi. Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP tế lễ trang trọng và thiền sư đã luyện pháp thành công.

Ra về, Từ Đạo Hạnh nhắn Sùng Hiền Hầu, hãy báo tin cho biết khi nào phu nhân khai hoa nở nhụy. Quả nhiên phu nhân Sùng Hiền Hầu đậu thai khỏe mạnh và đến kỳ sinh nở. Sùng Hiền Hầu vội báo tin vui cho thiền sư và đặt tên con trai là Lý Dương Hoàn. Thiền sư nghe tin vội vã lên núi và thiền cho đến khi hóa về trời (đúng ngày mùng 7 tháng 3 Âm lịch). Chẳng bao lâu Lý Dương Hoàn lên ngôi vua lấy hiệu là Lý Thần Tông (1128-1138). Trong nhân gian đồn rằng chính thiền sư Từ Đạo Hạnh đã hóa kiếp đầu thai thành vua Lý Thần Tông trị vì thiên hạ được 10 năm.

Vương Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.