Ong bay trong truyền thuyết!

Đến nay đủ căn cứ khẳng định con người biết dùng mật ong khoảng trên 10.000 năm. Nghề nuôi ong có cách đây 7.000 năm. Khảo cổ học tìm thấy trong các hang động xa xưa nhất của người Ai Cập đã có những hình vẽ về loài ong.

  • Đại bàng - Bay trong huyền thoại!
  • Tò vò có nuôi con nhện?

Khi trong ý thức có thần thánh thì con người gắn liền ong với các vị thần. Người Ai Cập cổ đại tin rằng loài ong được tạo ra bởi những giọt nước mắt của Thần Ra - thần Mặt trời, vị thần tối cao của họ. Trong văn hóa La Mã, ong gắn liền với các vị thần như Aphrodite, Artemide… Người La Mã coi ong là biểu tượng của sự chăm chỉ, cống hiến và niềm tin gắn kết cộng đồng.

Trong Cơ đốc giáo, những con ong tượng trưng cho các bậc thánh, tổ ong là biểu tượng của sự đoàn kết, tri thức và hiểu biết. Ở nhiều nền văn hóa có những bằng chứng cho thấy loài ong là biểu tượng của thai sản và nữ tính. Điều này có lẽ xuất phát từ mẫu gốc là tổ ong luôn đông đúc nhờ ong chúa đẻ rất khỏe, bầy đàn đoàn kết cao, cho mật ngọt... Vì lẽ này ong thường được gắn liền với nữ thần. Ong bay vào thế giới truyền thuyết với tư cách một biểu tượng lâu đời và phong phú các biến thể bậc nhất.

image001.jpg -0
Ong trở thành một biểu tượng lâu đời trong truyền thuyết.

"Truyện cổ Grim" có truyện “Công chúa ong” khá thú vị. Ba anh em hoàng tử nọ cùng đi dạo chơi thì gặp một tổ kiến. Hai anh muốn phá đi xem kiến sẽ ra sao và tha trứng đi như thế nào. Nhưng chú út có tên Ngốc nói: “Xin các anh để chúng yên thân, em không muốn các anh quấy nhiễu chúng”. Ba anh em lại đến một cái hồ đầy vịt đang bơi. Hai anh muốn bắt một đôi làm thịt, nhưng chú Ngốc không chịu, lại xin không giết. Họ lại đến một tổ ong đầy mật. Hai anh muốn đốt lửa ở gốc cây hun cho ong chết để lấy mật, nhưng chú Ngốc ngăn lại. Ba anh em đi mãi đến lâu đài của ba công chúa rất đẹp mà cả ba đều muốn lấy làm vợ.

Các công chúa bèn ra điều kiện làm ba việc, ai làm tốt sẽ được chọn người mình ưng, nếu không làm được sẽ bị hóa đá. Việc thứ nhất là vào rừng, tìm ở dưới đám rêu một nghìn viên ngọc. Người anh cả đi tìm chỉ được có một trăm viên ngọc. Thế là anh ta hóa đá. Đến lượt người anh thứ hai đi tìm ngọc. Cũng không hơn được anh cả bao nhiêu, anh ta chỉ tìm được có hơn hai trăm viên ngọc và cũng hóa đá. Sau cùng đến lượt chú Ngốc đi mò ngọc dưới rêu. Chú ngồi khóc trên một tảng đá. Bỗng Chúa kiến mà chú đã cứu thoát trước kia cùng với năm nghìn kiến quân đến giúp tìm đủ số ngọc trong chốc lát và xếp thành đống.

Việc thứ hai là mò ở đáy bể lên cái chìa khóa buồng ngủ của công chúa. Chú Ngốc vừa đến bờ bể thì tức khắc đàn vịt mà chú đã cứu lặn xuống nước và mò chìa khóa lên. Việc thứ ba là phải tìm ra trong ba công chúa ai là chị ai là em. Ba nàng công chúa đều giống nhau như đúc, chỉ khác là trước khi ngủ ba nàng ăn đồ ngọt khác nhau: cô cả ăn một thìa đường, cô thứ hai uống một cốc nước cam, cô thứ ba uống một thìa mật ong. Bầy ong mà chú Ngốc đã cứu thoát khỏi ngọn lửa bèn đến giúp. Ong bay đi rồi đậu lên môi công chúa đã ăn mật ong... Thế là chàng Ngốc ta liền xin các công chúa hóa giải hai người anh trở lại làm người và chọn cô út xinh nhất làm vợ. Cả ba anh em đều hạnh phúc suốt đời.

Câu chuyện theo đúng motif, kết cấu cổ tích: em út hiền lành gặp may mắn, cứu người và kết hôn cùng người đẹp. Ngày nay nhìn dưới ánh sáng của phê bình văn học sinh thái có thể coi đây là mẫu truyện kể kêu gọi con người biết yêu thương, hòa nhập, sống cùng thiên nhiên sẽ được thiên nhiên bao dung, giúp đỡ và ngược lại... Thì ra cổ tích kể chuyện tận xa xưa nhưng lại rất hiện đại, Ok9cab Link Chính Thức!

Cổ tích Việt có “Nàng Ong” mang tính giáo huấn rất rõ. Truyện kể ngày xưa, có một người đàn bà tên là nàng Ong Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 chăm chỉ nhưng vẫn nghèo túng vì nhà đông con. Mẹ chăm chỉ bao nhiêu thì lũ con lại lười biếng bấy nhiêu. Nàng Ong thường khuyên: “Muốn no thì phải chăm làm/ Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi” nhưng chả đứa nào nghe. Lớn lên chúng bỏ nhà ra đi, để nàng Ong ở nhà một mình vò võ. Nàng buồn phiền quá mà chết. Mấy năm sau, lũ con trở về. Đứa nào cũng rách rưới, xanh xao, vàng vọt. Hổ thẹn vì không nghe lời mẹ dạy, chúng bảo nhau chăm chỉ làm ăn, chả mấy mà có của ăn của để.

Năm ấy chẳng may một trận hỏa hoạn xảy ra, đám con chết cả. Xuống âm phủ được gặp mẹ đứa nào đứa ấy kể chuyện đã nghe lời mẹ mà chí thú lao động. Diêm vương biến họ thành loài ong cho lên dương gian tiếp tục chăm chỉ làm ra mật ngọt. Mẹ làm ong Chúa, các con làm ong thợ. Cũng vì thế mà ong rất sợ lửa. Câu chuyện cắt nghĩa tập quán loài ong qua đó đưa ra bài học Ok986 tải ứng dụng con người phải chăm chỉ lao động thì mới có thành quả (mật ngọt).

capture.jpg -0
Ảnh minh họa.

Cổ tích “Bà chúa Ong” cũng mang tính Ok986 tải ứng dụng, phải chăm chỉ, hiền lành, đức độ sẽ gặp may mắn. Ngày xưa có anh học trò nghèo lại rất có hiếu. Đến kỳ thi anh nhờ hàng xóm trông nom cha mẹ rồi mình trảy kinh ứng thi trong khi không có một đồng trong tay. Chàng vừa đi vừa làm thuê kiếm tiền độ nhật. Hôm ấy mệt quá, trời đã tối, chàng xin vào nhà bên đường ngủ trọ. Một cô gái mù ra mở cửa. Những điều cô nói làm anh kinh ngạc vì cứ như cô ở bên cạnh mình từ lâu. Chàng hỏi, cô trả lời vì mù nên ông trời thương phú cho linh cảm rất tốt.

Đêm ấy không ngủ chàng nhìn lên ban thờ thấy quyển sách Phật, tò mò chàng đọc, càng đọc càng thấy hay, sâu sắc mà thiết thực. Hôm sau chàng tạm biệt. Kỳ thi ấy chàng đỗ cao vì nhà vua ra đề đúng vào một phần nội dung quyển sách Phật ấy. Trạng nguyên vinh quy trở về ghé nhà cô gái cảm ơn thì thấy cô gái ấy bỗng xinh đẹp lạ thường, mắt sáng long lanh. Nàng nói được Chúa Ong hút thần dược rồi nhỏ vào mắt. Sung sướng vô cùng, họ cùng nhau về xin phép cha mẹ để thành gia thất. Đúng là “song hỷ” vừa “đại đăng khoa” (đỗ Trạng) vừa “tiểu đăng khoa” (cưới vợ đẹp)!

Nếu ở lĩnh vực truyện cổ tập trung khai thác đặc tính (nội dung) chăm chỉ cần cù của loài ong để đưa ra bài học luân lý, thì cùng mục đích nhưng ở thành ngữ, tục ngữ, ca dao lại khai thác khía cạnh tập quán (hình thức). Chỉ tính riêng trong “Truyện Kiều” được coi là tiêu biểu cho việc học tập, tiếp thu lời ăn tiếng nói dân gian đã thấy có rất nhiều câu: “Ong bướm đi về”, “Bướm lả ong lơi”, “Bướm chán ong chường”, “Hoa xưa ong cũ”, “Ong qua bướm lại”...

Đấy là dựa vào nét hình thức tập quán ong thường tìm đến các loài hoa hút mật để chỉ các chàng trai đi tán tỉnh các cô gái đẹp. Cũng là một cách khuyên răn con người ta phải đứng đắn, thủy chung, đừng như những chàng ong chập chờn nay hoa này mai hoa khác. Còn với các cô gái, đẹp như hoa trà mi cũng phải rất cảnh giác, đừng để cho “con ong đã tỏ đường đi lối về” kẻo hối tiếc (“Tiếc thay một đóa trà mi”). Riêng một thành ngữ “Nuôi ong tay áo” chỉ việc tin dùng kẻ xấu sẽ bị phản bội là đi xa so với tập quán loài ong. Ong hung hãn chỉ đốt khi tổ của chúng bị phá. Còn trong quan niệm chung ong là loài vật hiền lành, chăm chỉ. Ở nhà quê, nhà nào có ong đến làm tổ là điềm may mắn!

Trước nay văn chương ca ngợi, mượn hình tượng ong để diễn giải một vấn đề nào đó nhưng hiểu ong một cách cụ thể làm người đọc phải ngạc nhiên thì có lẽ chưa ai vượt được Nguyễn Tuân trong “Tờ hoa” nổi tiếng: “OK9giaitri đăng nhập con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số”.

Nhà văn có nói đến cá nhân mình “dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống”, bạn đọc hiểu “thứ mật gì” đó, với nhà văn thì chính là tác phẩm. Một liên tưởng thật hay: tác phẩm văn chương phải là một thứ mật ong nguyên chất có sứ mệnh “đem thơm thảo vào sự sống”, nghĩa là phải đẹp, vàng óng ánh (như mật ong), nội dung phải tinh chất, nguyên khiết, phải ngọt ngào, phải là chất bổ (như mật ong) cho cuộc đời!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.