“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

  • Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ cách tạo thói quen đọc sách cho trẻ
  • Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Trong thi ca Việt Nam hiện đại, chiến tranh luôn là một mạch nguồn lớn, nơi hội tụ những tiếng nói bi tráng, những suy tư nhân bản và những tìm tòi Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 không ngừng đổi mới. Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Tập thơ vì thế là một bản hợp xướng lớn về chiến tranh, ký ức và tình yêu quê hương, nơi cái riêng hòa tan vào cái chung, nơi những rung động chân thật trở thành nền tảng cho một phong cách thơ giàu suy tưởng và liên tưởng nhiều chiều.

Từ diễn ngôn sử thi sang hậu sử thi

Trong thơ ca, đề tài chiến tranh từng được kiến tạo chủ yếu trong mô hình diễn ngôn sử thi - nơi chủ thể trữ tình hòa tan vào cái “ta” cộng đồng, và hình tượng người lính được lý tưởng hóa như biểu tượng thuần nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tuy nhiên, từ sau Đổi mới, cùng với sự dịch chuyển của ý thức hệ thẩm mỹ và sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân, thơ ca bắt đầu tái cấu trúc diễn ngôn chiến tranh theo hướng đa thanh, phản tư và nhân bản hóa sâu sắc hơn.

img_3018.jpg -1
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Trong bối cảnh ấy, “Những người lính của làng” của Nguyễn Quang Thiều nổi lên như một trường hợp tiêu biểu cho sự chuyển đổi từ thi pháp sử thi sang thi pháp hậu sử thi. Tác phẩm không phủ nhận chiều kích cộng đồng, nhưng đã giải cấu trúc hình tượng người lính bằng cách đặt họ vào những trường liên tưởng đa tầng: ký ức - thân thể - cái chết - quê hương - và tính hữu hạn của đời người.

Một trong những thành công nổi bật của tập thơ là OK9 đã banh hình tượng người lính bắt nguồn từ không gian làng quê. Ngay từ chương mở đầu, người lính hiện lên không phải như những chiến binh được “tạo hình” từ chiến trường, mà là những đứa trẻ lớn lên từ đất đai, từ sông nước, từ ký ức rất đỗi đời thường: "Chúng tôi lớn ào lên như ngọn gió/ Như con sông chảy qua làng mùa mưa…”.

Ở đây, người lính trước hết la ângười con của làng. Họ gắn bó với “con đường nhỏ”, “tiếng chó sủa”, “bông hoa đèn”, “lưng trâu”, “dòng sông”… Những hình ảnh này không chỉ tạo nên nền tảng hiện thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: quê hương chính là cội nguồn tinh thần nuôi dưỡng họ.

Khi chiến tranh đến, sự chuyển hóa diễn ra tự nhiên mà đột ngột: "Chúng tôi không còn là trẻ con/ Chúng tôi vụt thành người lính”.

Câu thơ mang tính bước ngoặt, không chỉ là sự thay đổi thân phận mà còn là sự thay đổi ý thức. Người lính không rời bỏ quê hương, mà mang quê hương vào chiến trường. Chính điều này tạo nên chiều sâu tư tưởng khi chiến tranh không tách con người khỏi OK9giaitri đăng nhập, mà là sự kéo dài đau đớn của OK9giaitri đăng nhập ấy.

Sự bi tráng ở đây không chỉ là hy sinh, mà là sự hy sinh trong nhận thức đầy đủ về mất mát. Hình ảnh người lính ngồi chết tựa gốc cây: "Môi anh đọng nụ cười ba mươi tuổi/ Nắng lên rồi xòe cánh trước ngực anh”. Đây là một trong những hình tượng đẹp của trường ca: cái chết không bị miêu tả như sự kết thúc, mà như một trạng thái tĩnh lặng, thanh thản, hòa vào thiên nhiên. Bi tráng vì có đau thương, nhưng không tuyệt vọng; vì cái chết được nâng lên thành một giá trị nhân văn sâu sắc.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là sự chuyển dịch từ hình tượng người lính như một ký hiệu tập thể sang một chủ thể mang tính cá thể hóa. Trong thơ chiến tranh giai đoạn trước (chẳng hạn Chính Hữu hay Phạm Tiến Duật), người lính thường được biểu đạt như một “kiểu nhân vật”, mang những phẩm chất chung: kiên cường, lạc quan, dũng cảm.

Nguyễn Quang Thiều phá vỡ mô hình này bằng cách: Tái hiện người lính như những cá thể có ký ức riêng. Nhấn mạnh những trải nghiệm thân thể (đói, khát, bệnh tật, ám ảnh). Cho phép sự yếu đuối, hoang mang và cả những khoảnh khắc phi anh hùng xuất hiện. Người lính vì thế không còn là “biểu tượng đóng kín” mà trở thành một chủ thể mở, nơi giao thoa giữa lịch sử và cá nhân.

Nếu chiến tranh là bối cảnh, thì tình yêu quê hương chính là mạch ngầm chi phối toàn bộ tập thơ. Điều đáng chú ý là tình yêu này không mang tính khẩu hiệu, mà được biểu hiện qua những chi tiết nhỏ bé, cụ thể, giàu cảm xúc.

Một trong những đoạn thơ ám ảnh nhất là hình ảnh đứa bé bú sữa mẹ đã chết: "Máu mẹ em, em tưởng lầm là sữa/ Em uống vào, sữa mặn, mẹ ơi!”. Đây là một biểu tượng mạnh. Quê hương không chỉ là nơi nuôi dưỡng, mà còn là nơi bị tàn phá. Tình yêu quê hương vì thế chuyển hóa thành nỗi đau. Và chính nỗi đau này làm sâu sắc thêm ý nghĩa của chiến đấu: không phải vì lý tưởng trừu tượng, mà vì những gì cụ thể, thân thuộc nhất.

Dù hiện thực đầy khốc liệt, tập thơ vẫn hướng tới một viễn cảnh: "Rồi mai đây người sẽ đến dựng nhà/ Sẽ sinh nở sẽ mỗi chiều nhóm lửa”.

Đây là một điểm quan trọng trong tư tưởng: chiến tranh không phải là đích đến, mà là con đường để bảo vệ sự sống. Người lính chiến đấu để “ngày mai” có thể tồn tại. Một nét đặc sắc của tập thơ là cảm xúc rất thật, không che giấu. Người lính trong thơ không phải là những “tượng đài vô cảm”, mà là những con người biết sợ, biết nhớ, biết đau.

Trong đoạn “Tiếng gọi”, người lính bị thương trong cơn sốt rét: "Anh khát nước/ Nhưng tìm đâu ra nước…”. Cơn khát ở đây vừa là khát nước, vừa là khát sống. Hình ảnh “liếm lên vách đất” là một chi tiết cực kỳ hiện thực, phá vỡ mọi lý tưởng hóa. Nhưng chính sự thật này lại làm cho hình tượng người lính trở nên cao cả hơn - bởi họ chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt nhất. Người lính không chỉ nhớ mẹ, mà còn nhớ người yêu: "Mười bảy tuổi em tóc dài hắt sáng/ Như con sông quê chảy dưới ánh trăng rằm”.

Tình yêu ở đây không tách khỏi chiến tranh, mà tồn tại như một nguồn năng lượng tinh thần. Nó giúp người lính vượt qua đau đớn, giữ lại phần người trong hoàn cảnh phi nhân.

Góp phần đổi mới ngôn ngữ và kết cấu thơ

Trong toàn bộ trường ca, “làng” không chỉ là một địa điểm địa lý mà là một không gian mang tính nguyên mẫu tương tự như “quê mẹ” trong nhiều nền văn hóa. Nó hội tụ các yếu tố: Nguồn gốc; Sự nuôi dưỡng; Bản sắc. Do đó, khi người lính rời làng ra chiến trường, thực chất là một sự “dịch chuyển bản thể”. Nhưng điều đặc biệt là họ không bao giờ rời khỏi làng về mặt tinh thần khi làng luôn hiện diện như một “trung tâm biểu nghĩa”.

Đối lập với làng quê là chiến trường - nơi các quan hệ nhân tính bị phá; Thân thể con người bị vật chất hóa; Sự sống và cái chết trở nên mong manh. Trong đối sánh này, Nguyễn Quang Thiều không cần trực tiếp lên án chiến tranh; chính sự đối lập không gian đã tạo ra mộtdiễn ngôn phê phán nội tại.

img_3017.jpg -0
Tập trường ca "Những người lính của làng".

"Những người lính của làng”có thể xem là một bước chuyển trong cách viết về chiến tranh. Thứ nhất, nó phá vỡ mô hình lý tưởng hóa người lính, đưa họ trở về với OK9giaitri đăng nhập thực. Thứ hai, nó mở rộng biên độ cảm xúc, cho phép những yếu tố đau đớn, hoài nghi, riêng tư xuất hiện. Thứ ba, nó đổi mới ngôn ngữ và kết cấu, đưa thơ Việt Nam tiệm cận với những xu hướng hiện đại của thế giới. Quan trọng hơn, tác phẩm khẳng định một giá trị nhân bản sâu sắc: chiến tranh chỉ có ý nghĩa khi nó bảo vệ sự sống, khi nó gắn với con người cụ thể.

Với những tìm tòi về ngôn ngữ, kết cấu và tư duy hình tượng, tập thơ không chỉ là một tiếng nói về chiến tranh, mà còn là một đóng góp quan trọng cho sự đổi mới của thi ca Việt Nam đương đại. Ở đó, người đọc không chỉ bắt gặp những người lính, mà còn bắt gặp chính mình trong nỗi nhớ, trong tình yêu, và trong khát vọng được sống, được trở về với những gì giản dị mà thiêng liêng nhất là quê hương.

Tập thơ không có một giọng nói duy nhất, mà là sự cộng hưởng của nhiều giọng: Giọng kể; Giọng trữ tình; Giọng suy tưởng; Giọng bi ca.Theo cách nhìn của Mikhail Bakhtin, đây là một cấu trúc đa thanh, nơi các tiếng nói không bị quy về một trung tâm quyền lực duy nhất.

"Những người lính của làng” không chỉ là một trường ca về chiến tranh, mà còn là một thử nghiệm thi pháp. Bằng việc: Cá thể hóa hình tượng người lính; Tái cấu trúc không gian và thời gian Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026; Đưa thân thể và cảm giác vào trung tâm; Sử dụng ngôn ngữ biểu tượng và cấu trúc phân mảnh.

Nguyễn Quang Thiều đã góp phần mở rộng biên độ của thơ Việt Nam đương đại, đưa nó tiến gần hơn tới những xu hướng hiện đại và hậu hiện đại của văn học thế giới. Tác phẩm vì thế không chỉ có giá trị như một ký ức chiến tranh, mà còn như một diễn ngôn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 về con người trong giới hạn của lịch sử là nơi cái hữu hạn của OK9giaitri đăng nhập được nâng lên thành ý nghĩa tồn tại.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.