Những lối tìm về cá tính H’Mông

Nếu muốn cảm nhận sự mộng mơ cá tính H’Mông, cần đến “những lối tìm về” khác, những lối tìm về của tưởng tượng và sáng tạo văn chương. Cá nhân tôi đã thấy điều đó từ một số tiểu thuyết của hai nhà văn gốc miền xuôi nhưng chuyên viết về miền núi: Đoàn Hữu Nam và Đỗ Bích Thúy...

  • Nhà văn Đỗ Bích Thúy: "Nàng thơ" của văn xuôi miền núi
  • Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Lấp lánh phận người chiết ra từ đá

Năm 2014, sau một thời gian liên tục thực hiện những chuyến nghiên cứu thực địa dài ngày tại các bản làng người H’Mông ở Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên... nhà “Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 học tự do” trẻ tuổi Nguyễn Mạnh Tiến đã cho xuất bản cuốn sách biên khảo đầu tiên của mình: “Những đỉnh núi du ca, một lối tìm về cá tính H’Mông” (NXB Thế giới & Song Thuy Bookstore, 2014). Lẽ dĩ nhiên, “Những đỉnh núi du ca” của Nguyễn Mạnh Tiến chỉ là “một lối tìm về cá tính H’Mông” trong số những lối tìm về khả thể.

Nó mang đặc trưng của tư duy nghiên cứu, nghĩa là bám sát và bám chắc vào những dữ kiện Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 học. Nó chủ ở lý trí chứ không chủ ở mộng mơ. Do vậy, nếu muốn cảm nhận sự mộng mơ cá tính H’Mông, cần đến “những lối tìm về” khác, những lối tìm về của tưởng tượng và sáng tạo văn chương. Cá nhân tôi đã thấy điều đó từ một số tiểu thuyết của hai nhà văn gốc miền xuôi nhưng chuyên viết về miền núi: Đoàn Hữu Nam và Đỗ Bích Thúy.

Những lối tìm về cá tính H’Mông -0
Sách “Những đỉnh núi du ca, một lối tìm về cá tính H’Mông” của Nguyễn Mạnh Tiến.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam, sau một loạt tiểu thuyết về đất và người vùng biên ải Lào Cai: “Tình rừng” (2000), “Dốc người” (2002), “Trên đỉnh đèo giông bão” (2004) và “Thổ phỉ” (2011), đã xuất hiện trở lại với thể loại tiểu thuyết bằng tác phẩm “Rễ người” (NXB OK9 trang cược thể thao xanh chín nhất châu Á nhân dân, 2020) và giành giải A cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ngắn, ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” lần thứ IV. Đây là truyện kể về một trưởng bản người Mông sống trên dãy Hoàng Liên Sơn, tên Phù, và nó được bắt đầu bằng một thời gian rất cụ thể: “Ngày 20 tháng 4 năm 1987, tức ngày Kỷ Hợi, tháng Giáp Thìn, năm Đinh Mão. Trưởng bản Hoàng Thu Giàng Seo Phù bị nạn”.

Cái nạn ấy là việc Phù vô ý đánh chết người. Sợ bị trả thù và sợ bị tù đày, Phù chạy trốn, sống chui nhủi trong rừng sâu đến hơn một năm. Sự kiện này khiến cho truyện kể có thể phân thành hai mạch. Mạch thứ nhất, là cuộc trở về với thiên nhiên hoang dã của một con người (dẫu sao cũng) thuộc thế giới hiện đại. Anh ta phải tự mình, chỉ một mình mình thôi, tìm hiểu môi trường sống đầy chất nguyên thủy vốn là quê hương đích thực của loài người; tìm hiểu để nương nhờ sự bao dung của nó, để chống chọi với cái khắc nghiệt của nó, tóm lại để có cái ăn và chỗ trú thân an toàn đặng bảo toàn mạng sống. Mạch thứ hai, giữ vai trò chủ lưu, là cuộc trở về bằng và trong ký ức của bản thân Phù, với gia đình, với làng bản, với dòng họ, và với cả lịch sử tộc người.

Những gương mặt thân và sơ, những hình ảnh gần gũi và xa xôi, những câu chuyện mới đây và những câu chuyện từ ngái xa mờ mịt... tất cả luôn hiện diện trong Phù, lúc mải miết tìm kiếm cái ăn cũng như khi ngủ nghỉ, lúc tỉnh thức và cả trong những miên man mê sốt nơi hang đá giữa rừng sâu. Xuyên qua tất cả những gương mặt, hình ảnh, câu chuyện ấy, là sự thường trực ý thức của “một thằng trai Mông đích thực”, “một người Ok986 vip Thiên đường trò chơi Mông chân chính” về tộc người của mình, từ khởi nguồn “người Mèo/ Miêu ở đất Quý Châu” bị Hán tộc chiếm đất, chém giết, phải làm những hành trình chạy nạn đầy chết chóc kinh hoàng, rồi mới lánh sang được và yên thân trên đất Việt. Những từ khóa “tâm thức lưu vong”, “tâm thức di dân” và “ám ảnh Hán” được biểu đạt rất rõ trong những lớp hồi cố của nhân vật trưởng bản Phù.

Chúng được nhấn khá đậm ở ký ức về chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, khi người cha yêu kính của Phù bị lính Trung Quốc giết chết. Chúng trở nên đầy cảm động ở cảnh các dòng họ người Mông gặp nhau và cùng nhau thực hiện những nghi thức tế lễ linh thiêng trong một cơn cuồng phong sậu vũ kỳ lạ. Chính những lớp hồi ức đó đã lên tiếng thúc gọi, kéo Phù ra khỏi nỗi sợ bị trả thù, bị tù đày khiến Phù quyết tâm tìm đường trở về với gia đình làng bản. Như thế, cái “rễ người” ở đây, trong tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam, không chỉ là cái rễ cắm vào truyền thống và lịch sử tộc người, mà còn mang ý nghĩa của cái rễ cắm rất sâu vào đất cát quê hương thứ hai của một tộc người có nguồn gốc di dân và làm thành một nét cá tính của tộc người ấy: người Mèo/ Mông/ H’Mông.

Trước tiểu thuyết “Rễ người” của Đoàn Hữu Nam, nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng đã có bốn tiểu thuyết “viết miền núi”, là “Bóng của cây sồi”, “Cánh chim kiêu hãnh”, “Chúa đất” và “Lặng yên dưới vực sâu”. Sau đó, chị lại ra tiếp một tiểu thuyết “viết miền núi” nữa, có tên “Người yêu ơi”. Tôi đặc biệt chú ý đến tiểu thuyết “Chúa đất” (NXB Phụ Nữ, 2015), bởi đó là “một lối tìm về cá tính H’Mông” mang dấu vết rất riêng, và khác, của Đỗ Bích Thúy.

Những lối tìm về cá tính H’Mông -0
Tiểu thuyết “Chúa đất” của Đỗ Bích Thuý.

Thứ nhất, truyền thuyết không nhắc đến nhân vật bà Cả, chính thất của Sùng Chúa Đà, nhưng đó lại là nhân vật được Đỗ Bích Thúy mô tả trong tác phẩm với tràn đầy thương cảm: người đàn bà Mông ấy như là cái bóng/ nô lệ/ con chó già của chúa đất, coi chúa đất như là toàn bộ lý lẽ cho sự tồn tại của mình nên khi bị chúa đất đuổi đi, bà đã tìm đến cái chết bằng cách trầm mình trong vụng nước sâu. Thứ hai, vai chính trong tác phẩm không phải Sùng Chúa Đà với cái cột đá hành quyết kinh hoàng của ông ta. Có chăng, nó chỉ biểu đạt sức mạnh của một thiết chế tự trị tộc người từng có lịch sử lâu dài ở miền núi cao phía Bắc, ở đó quyền lực của thủ lĩnh một vùng chủ yếu được đo bằng khối lượng thuốc phiện, ruộng nương, trâu ngựa, bạc nén, kẻ ăn người làm mà ông ta sở hữu, cùng nỗi khiếp nhược của người dân dưới uy thế của ông ta. Chúa đất cũng giống như chúa Trời một cõi vậy.

Tuy nhiên vai chính thực sự trong tiểu thuyết “Chúa đất” lại là bà vợ thứ tư của chúa đất, người có cái tên cha sinh mẹ đẻ là Vàng Chở. Vàng Chở là một thiếu phụ Mông xinh đẹp, ưa làm đỏm, luôn tự ý thức về nhan sắc của mình, luôn khao khát được thỏa mãn những ham muốn yêu đương, cả về tinh thần và xác thịt. Khi chúa đất Sùng Chúa Đà không đáp ứng được những ham muốn ấy, Vàng Chở bắt nhân tình với Lù Mìn Sáng, thằng chăn ngựa trong nhà chúa đất, mặc cho sự thể là so với cô thì Lù Mìn Sáng “chỉ như con sâu đậu trên bông anh túc”, và hơn thế nữa, mặc cho đòn trừng phạt kinh hoàng có thể ập xuống bất cứ lúc nào nếu chúa đất phát hiện cô phản bội. Thực tế đã xảy ra đúng như thế. Và trong lúc Lù Mìn Sáng hết tìm cách bỏ trốn đến khóc lóc, kêu gào, van xin khi bị bắt rồi bị chịu nhục hình treo người, thì Vàng Chở vẫn thản nhiên ở lại, thản nhiên chấp nhận số phận tàn khốc của mình, không nuối tiếc, không ân hận.

Trên cột đá treo người của chúa đất, Vàng Chở, bông hoa anh túc đẹp nhất của vùng Đường Thượng ấy chỉ chảy nước mắt lúc lâm chung: “Chảy vì tiếc cho thân thể đẹp đẽ của mình có lúc phải làm mồi cho bọn quạ đen bẩn thỉu”. Có thể nói, cái tư thế và tâm thế ấy của nhân vật Vàng Chở chính là sự biểu đạt tuyệt vời cho sự khao khát tự do và tinh thần nổi loạn trong cá tính H’Mông. Vàng Chở khao khát được là chính mình, khao khát không để phí thân thể đẹp đẽ của mình trong bóng tối của sự bất lực hay lãnh cảm, nói cách khác, cô khao khát được sống đến cùng trong ham muốn tình yêu và tình dục.

Sau “Chúa đất”, ở hai tiểu thuyết “Lặng yên dưới vực sâu” và “Người yêu ơi” (NXB Văn học & Cty Liên Việt, 2021), cái “gen Vàng Chở” vẫn được Đỗ Bích Thúy lặp lại trong một số nhân vật nữ người Mông của mình, tuy nhiên, trong một khung khổ thời gian khác. Không còn là Ok9 cab trò chơi casino phổ biến người Mông trong truyền thuyết, thời của các thổ ty quyền thế nữa, mà là Ok9 cab trò chơi casino phổ biến người Mông bây giờ, khi miền núi đang hăm hở phát triển để “tiến kịp miền xuôi”, khi các thiếu nữ Mông đã biết nhuộm tóc nâu tóc vàng, mặc áo pull quần jeans, và mắt đã rất quen với ánh sáng của màn hình điện thoại di động... thì cái “gen Vàng Chở” ấy vẫn âm thầm chảy, đôi khi nó bộc phát thật quyết liệt. Lẽ dĩ nhiên, các tiểu thuyết gia Đoàn Hữu Nam và Đỗ Bích Thúy hoàn toàn có thể OK9 đã banh những hình dung văn chương của mình về cá tính tộc người mà không cần biết đến những khái quát của nhà Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 học như Nguyễn Mạnh Tiến.

Nhưng sự thật là, các dữ kiện Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 học và các dữ kiện văn chương cũng đều từ đó: người Mèo/ Mông/ Hmong, mà ra. Vì thế, với những lối tìm về cá tính H’Mông càng đa dạng, ta càng có dịp hiểu thêm, nhiều và sâu hơn về tộc người này, một tộc người đã từng là chủ nhân đích thực, đầy quyền lực trên những chóp núi bốn mùa sương giăng mây phủ...

  • Những lối tìm về cá tính H’Mông ảnh 3 Hội xuân của người H’mông
Hoài Nam

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.