Nhiều sai sót trong ấn bản“Đại Việt sử ký toàn thư”

Văn bản “Đại Việt sử ký toàn thư” này do Cao Huy Giu dịch; Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng. Hai đơn vị liên kết phát hành in theo bản in của NXB Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 và Ok9 cab trò chơi casino phổ biến năm 1971 – 1972. Tuy nhiên, khi in lại, do thiếu người có trình độ chuyên môn vững vàng nhuận sắc lại cho nên cuốn sách có quá nhiều sai sót khiến bạn đọc thất vọng về một tác phẩm sử học được cho là “gối đầu giường”.
  • Sách “Người Mường ở Hòa Bình” có quá nhiều sai sót

Dưới đây, chúng tôi xin dẫn ra một số ví dụ.

Đầu tiên phải nói tới sự nhập nhằng của đơn vị xuất bản khi sử dụng lại toàn bộ lời Giới thiệu của cuốn sách do Viện Sử học viết tại Hà Nội ngày 2 tháng Giêng năm 1965 (tr. 5-6) nhưng đã cắt bỏ phần cước chú này. Hành vi này là vi phạm bản quyền của người khác. Tiếp đến, trang 7 sử dụng bản tiểu sử Ngô Sĩ Liên cũng do các tác giả soạn sách từ nửa thế kỷ trước, không có sự cập nhật địa giới hành chính hiện đại (vẫn để địa danh: nay là Hà Tây) và còn làm sai lệch năm mất của vua Lê Nhân Tông từ năm 1459 thành 1495. Làm sai tên sách “Đại Việt sử ký tục biên” thành “Đại Việt sử ký lục biên” (tr. 9). Những lỗi sai tương tự như thế này rất nhiều trong sách.

Về mặt quy chuẩn chính tả, do sử dụng theo bản in năm 1971-1972 cho nên trong cuốn sách này quy chuẩn chính tả lẫn lộn giữa quy phạm cũ và chuẩn chính tả mới. Ví dụ, các tên riêng trước đây như Lê Hi tôn, nay phải sửa thành Lê Hi Tôn; Lê Chiêu tôn nay phải thống nhất viết đúng là Lê Chiêu Tôn… thì bản in này không thống nhất được chuẩn trong toàn bộ nội dung cuốn sách.

Xét ra những lỗi kỹ thuật ấy có thể châm chước được vì nó cũng không ảnh hưởng đến nội dung sách. Song, nhiều chữ trong sách vì người biên tập trình độ non kém nên để nhiều chỗ làm sai nghĩa của từ khiến bạn đọc thấy không ổn. Ví dụ như trong lời Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết rằng, Thăng Long “có thế rồng cuộn hổ ngồi” thì NXB Thời đại sửa thành “có thể” (tr. 160).

Có thế và có thể, chỉ khác nhau hai dấu sắc và dấu hỏi thì ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nhà vua xây cung điện trong thành, “mở cửa Phi Long” thì NXB Thời đại sửa thành “của Phi Long” (tr. 160). Cửa và của ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Sư Vạn Hạnh không bệnh tật mà chết, người bấy giờ bảo là “hóa thân” thì NXB Thời đại sửa thành “hỏa thân” (tr. 167). Hóa thân và hỏa thân đâu phải từ đồng nghĩa. Hay như chú thích đánh số 1 chân trang 165, tài liệu “Việt điện u linh tập” đã bị cắt mất chữ u chỉ còn “Việt điện linh tập”; “thiếu sư” – một chức quan dưới bậc tam công – bị đánh thêm dấu nặng mà thành “thiếu sự” (tr. 164)...

Hoặc như lời bàn của Ngô Sĩ Liên ở trang 179: “Phàm vật hình vuông thì đứng, hình tròn thì đi” được NXB Thời đại sửa thành “Phàm vật hình vuông đi đứng”. Trang 182 chép lời vua Lý Thái Tông: “bốn đi theo về, trăm man hướng hóa”. Chỉ một chữ sai mà nghĩa cả câu sai. “Bốn di” tức là bốn phương. Ý nghĩa của câu hai vế đối nhau, nhà vua coi các vùng bị đánh dẹp để mở rộng bờ cõi là “man di”, bởi vậy câu trước là “bốn di” thì câu sau là “trăm man”. Chữ nghĩa của người xưa, nhất là bậc đế vương đâu phải tùy tiện phết phảy như cách hiểu của các NXB hiện nay.

Những lỗi trên đây khiến bạn đọc không khỏi phiền lòng. Riêng chúng tôi, sử dụng bút đánh dấu loang lổ trên các trang sách. Bởi vì lỗi liên tiếp lỗi trong từng trang và đây lại là phần viết về vị vua khai sáng ra triều Lý, người định đô Thăng Long – Hà Nội nghìn năm. Song, điều khác nữa mà chúng tôi muốn nhấn mạnh tới, đó là một cuốn sách kinh điển như “Đại Việt sử ký toàn thư” khi tái bản lại không có người nhuận sắc. Nói gì chăng nữa, bản in gần 50 năm trước, chắc chắn không khỏi sai sót trong kỹ thuật in ấn; thêm nữa, sau gần nửa thế kỷ, nhiều địa danh thay đổi so với địa giới hành chính hiện nay rất cần phải chú thích lại để bạn đọc hôm nay xác định được.

Chắc NXB Thời đại và Nhà sách Minh Thắng cho rằng cứ in theo nguyên bản bản in cũ thì sẽ đảm bảo nội dung. Tất nhiên, phải thừa nhận một điều là trong bản in lại này, đơn vị xuất bản đã đưa các chú thích xuống dưới chân trang thay vì cuối sách như bản in trước đây, đó là tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc tiện tra cứu. Vậy nhưng, lỗi nặng nhất chính là ở chỗ in theo nguyên bản. Vì thế, trang 165 viết: “Khoảng đời Nguyên Phong nhà Tần, người Thát Đát vào cướp… Khoảng đời Trùng Hưng, người Thát Đát lại vào cướp…”. Nguyên bản trong sách in năm 1972 là nhà Tần. Song, khi tái bản lại, NXB Thời đại đã có thêm chú thích chân trang rằng: Nguyên phong là niên hiệu Trần Thái Tôn, Trùng Hưng là niên hiệu Trần Nhân Tôn, người Thát Đát là người Mông Cổ. Vậy mà vẫn để y nguyên là “nhà Tần”? Chỉ thêm một chữ “r” vào sẽ chính xác là nhà Trần có phải sửa được lỗi sai không!

Ở trên chúng tôi đã nói, lỗi nặng nhất ở sách này là thiếu người nhuận sắc cho nên những địa danh quá cũ không còn phù hợp với địa giới hành chính hiện nay. Đó là các địa danh huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (tr. 159; tr. 166). Tỉnh Hà Bắc đã chia tách thành hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh từ năm 1997. Ngay như huyện Tiên Sơn, năm 1999 cũng đã chia tách thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn. Gần 20 năm đã trôi qua, sao vẫn “nay là”? Hay như địa danh phủ Ứng Hòa (tr. 164) chú thích: “nay là huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây”.

Từ năm 2008, tỉnh Hà Tây đã được sáp nhập về Hà Nội. Hoặc như địa danh Tây Nông (tr. 181) được chú thích: tức là huyện Tư Nông, tỉnh Thái Nguyên sau này; châu Vĩnh An được chú thích “tức tỉnh Hải Ninh ngày sau” (tr. 167); địa danh “đạo Lâm Tây” (tr. 180) chú thích: “tức khu tự trị Thái – Mèo ngày nay”. Huyện Tư Nông nay là huyện nào? Tỉnh Hải Ninh nay là tỉnh nào? Khu tự trị Thái – Mèo ở đâu? Vì các đơn vị ấy không có tên trên bản đồ hành chính quốc gia. Và việc chú thích như vậy cũng là qua loa đại khái, bởi vì người đọc hôm nay (trừ những người quan tâm tra cứu) khó mà xác định được những địa danh hành chính cũ như cấp châu, cấp phủ, khu tự trị. Nếu xét toàn bộ cuốn sách, lỗi này có trong tất cả phần nội dung.

Cuối cùng, xin bàn đến việc tiến bộ nhất là đưa các chú thích xuống chân trang thì NXB Thời đại và Nhà sách Minh Thắng làm cũng chiếu lệ. Chú thích đánh số 2 (tr. 163) có nhắc đến địa danh châu Vị Long. Về địa danh châu Vị Long, sách viết: “Xem chú quyển I, Bản”. Bản thân việc ghi chú thích này đã sai. Nguyên văn trong sách in năm 1972, phần chú giải và khảo chứng, trang 336 ghi như sau: Châu Vị Long: xem chú (75) quyển I. Bản – 194”. Nghĩa là, bản in chú thích này ở trang 194. Còn chú thích châu Vị Long xem chú thích số 75 ở trang 334 ghi như sau: “Vị Long: tức huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ngày nay”. Như thế, thay vì làm chú thích chiếu lệ như trên, người làm sách có trình độ chuyên môn tốt chỉ cần chuyển chú thích từ trang khác sang từ đó sẽ có chú thích chính xác và dễ hiểu cho bạn đọc ngày nay.

Một cuốn sách quá nhiều sai sót như trên được đưa ra thị trường là thiếu tôn trọng bạn đọc.

TS Phạm Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làm sai thêm nguyên tác của người dịch xưa

“Đại Việt sử ký toàn thư” là một bộ sử quan trọng nhất trong sách lịch sử Việt Nam. Sách đã được dịch và in nhiều lần. Việc in lại bản dịch “Đại Việt sử ký toàn thư” cách đây mấy chục năm cần có chú thích của ban biên tập hoặc người hiệu chỉnh trong lần in mới. Dịch giả Cao Huy Giu đã dùng rất nhiều từ cổ, hoặc âm Hán Việt, hoặc địa danh đã đổi thay sau khi sát nhập hoặc chia tách, cho nên cần có những chú thích xuống dưới, ghi rõ biên tập chú thích lại. Phần nội dung chính vẫn ghi nguyên bản dịch của tác giả thì sẽ phù hợp hơn.

Việc in lại sách của NXB Thời đại – Nhà sách Minh Thắng không những không chú thích cái đúng cái sai, khác biệt thời đại mà lại còn làm sai thêm nguyên tác của người dịch xưa, thì thật không thể chấp nhận được! Như thế là không những không tôn trọng độc giả, mà cũng không tôn trọng chính dịch giả của sách. Như thế, in lại, vô hình chung sách càng giảm giá trị.

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.