Nhà thơ Vũ Cao: Sừng sững bên trời một Núi Đôi

Ngoài làm thơ, Vũ Cao còn viết truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết. Cuốn "Tuyển tập Vũ Cao" do NXB Hà Nội ấn hành năm 2002, phần văn xuôi của ông dày gấp 4 lần phần thơ. Vậy nhưng, đã nói đến Vũ Cao là người ta nói đến thơ; người ta gọi Vũ Cao là nhà thơ.

Kể cũng dễ hiểu: Ở lĩnh vực này, ông đã để lại cho đời một thi phẩm có sức sống vượt thời gian. Năm 2000, nhân "Giao thừa thiên niên kỷ", nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình đã làm cuộc phỏng vấn một số nhà thơ quân đội: Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Lê Thành Nghị, Vương Trọng, Hồng Thanh Quang, Nguyễn Hồng Hà. Câu hỏi đặt ra là: Nếu chọn 5 bài thơ hay nhất viết về anh bộ đội Cụ Hồ để mang vào thế kỷ XXI thì các nhà thơ sẽ chọn những bài nào? Kết quả: Gần 30% người được hỏi cho biết, một trong 5 bài họ chọn là bài "Núi Đôi" của Vũ Cao; gần một nửa số người còn lại nói nếu cho họ chọn nhiều hơn con số 5 một chút, họ cũng sẽ chọn "Núi Đôi". Với các nhà thơ chuyên nghiệp thì vậy, còn với đông đảo bạn đọc, có thể nói không ngoa rằng, "Núi Đôi" luôn nằm trong số những bài được họ chép sổ tay nhiều nhất. Các tuyển tập thơ tình được soạn từ nhiều chục năm nay cũng rất hiếm khi vắng cái bóng dáng lừng lững đầy ngùi ngẫm của… "Núi Đôi".

Thật ra, có đọc toàn bộ mảng thơ của Vũ Cao, ta mới thấy ông mang tư chất của một nhà văn nhiều hơn là một nhà thơ. Và "Núi Đôi" chính là một hiện tượng phá cách đột xuất, rất độc đáo của ông. Tuyệt đại đa số các bài thơ của Vũ Cao đều là thơ kể chuyện, có tả cảnh, tả việc rõ ràng. Hồi còn trẻ ông từng viết: "Cách đây mười năm, tôi có lần qua hang Cốc Xá/ Những xác giặc nằm bên nhau nghiêng ngả/ Râu tóc bơ phờ dưới những lùm cây/ Những khẩu súng duỗi nòng bên những cánh tay/ Những con mắt nhìn lên khủng khiếp" (bài "Cốc Xá"), thì khi có tuổi rồi, ông vẫn viết: "Nhiều lần tôi thấy bên công viên/ Mấy người đàn bà nằm/ Chân thõng gầm ghế đá/ Mắt nhắm nghiền/ Tóc xõa/ Những người đàn bà đói nghèo đi kiếm ăn/ Áo quần đẫm sương/ Thân phận vật vờ/ Đã bao đêm không biết nằm đâu/ Ghế đá lùm cây tạm ngủ" (bài "Nhiều lần tôi thấy"). Đó là những đoạn gọi là thơ nhưng thực chất đã phải làm thay nhiệm vụ phản ánh hiện thực của các thể tài văn xuôi. Và sự thực, chỉ cần ta bỏ đi chút vần nối ở cuối mỗi câu, hẳn người đọc sẽ thấy nó như thể những đoạn, những mảng… cắt ra từ một truyện ngắn (hoặc một bài bút ký, một cuốn tiểu thuyết) nào đó.

Đọc thơ Vũ Cao, ta có cảm tưởng ông viết khá nhọc nhằn. Có bài kể chuyện một anh bộ đội nhỡ độ đường được một cô gái miền sơn cước tiếp rượu, mấy khổ thơ cuối thật hào sảng:

Tôi trông màu rượu
Màu tím hoa cà
Lại nhìn đôi mắt
Sáng tròn như hoa

và:

Lên ngang dốc núi
Chợt thấy mình say
Người ơi hoa tím
Đầy rừng hoa bay.

Nhưng mấy ai biết rằng, bên cạnh việc giữ "nguyên trạng" mấy khổ thơ này, tác giả còn cẩn thận làm hai phần "vào đề" khác nhau (có bối cảnh, không gian và thời gian khác nhau) và cho in thành hai bài cùng đứng trong một tập (một bài tên gọi "Hành quân đêm", một bài tên gọi "Ngang dốc núi") để bạn đọc so sánh và tùy ý… lựa chọn. Làng thơ Việt Nam thật hiếm trường hợp như vậy. Tất nhiên, sự kỳ công ở bài "Ngang dốc núi" so với bài "Hành quân đêm" viết ra trước đó có thể đem lại hiệu quả cảm xúc mạnh hơn, song việc làm "dàn bài", OK9 đã banh bối cảnh kiểu ấy thiết nghĩ không phải là cách sáng tác của một nhà thơ.

Với bài thơ "Núi đôi", Vũ Cao cũng có cách OK9 đã banh theo kiểu một nhà văn. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, trong tập "Chuyện ít biết về văn nghệ sĩ" (NXB Hội Nhà văn, 2001) đã kể lại xuất xứ bài thơ mà anh nghe được từ chính tác giả: "Bài "Núi Đôi" ông viết tháng 12/1956. Hồi 1955-1956 ông về công tác ở sư đoàn 312 đóng quân ở Sóc Sơn, cạnh đấy có núi Đôi. Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể về cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội. Anh bộ đội trở về thì cô gái đã hy sinh. Vũ Cao tìm đến thăm mộ cô gái đó. Và cuối cùng là bài thơ "Núi Đôi" ra đời, đúng như câu chuyện có thật, kể cả tên làng tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật. Mộ cô gái hiện nay vẫn còn. Chỉ có anh bộ đội là ông không gặp được". Như vậy, "Núi Đôi" là tác phẩm được OK9 đã banh trên một cái sườn cốt truyện có thật. Song không giống với những bài thơ khác của cùng tác giả, ở thi phẩm này, Vũ Cao không quá thiên về phản ánh sự việc mà ông chú ý hơn đến phần tâm tình, đến tiếng vọng dội lên từ trong sâu thẳm tâm hồn mình.

Nói một cách hình tượng thì nếu như nhiều bài thơ trước đó của Vũ Cao chỉ như bầy gia cầm lò cò trên mảnh đất hiện thực chật chội, đáp ứng nhu cầu "phục vụ tức thời" thì với "Núi Đôi", nó đã hóa thiên nga sải cánh bay cao trên bầu trời rộng rênh của nền thơ kháng chiến. Nó đã kết hợp được một cách hài hòa, nhuần nhị giữa cái ảo và cái thực; giữa hình ảnh và giai điệu; giữa tình riêng và lẽ sống chung… Bởi thế mà "Núi Đôi" là bài thơ có thể đáp ứng được nhiều đối tượng bạn đọc và cũng là thi phẩm có sức khái quát cao.

Nếu như trước đây, thơ Vũ Cao thường nặng về tả, thậm chí tả rất kỹ, thì ở bài này, ông không làm như vậy. Nói đúng hơn, cảnh chỉ được điểm xuyết và là cái cớ để ông bộc lộ tình cảm của mình. Những chỗ tả kỹ nhất, rõ nhất chính là mấy chỗ ông nói về tội ác của giặc. Đó là: "Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau" (một hình ảnh có tính đại diện, và rất biểu cảm. Yên bình như cây cau ở chùa mà cũng phải chịu cảnh bị đốt cháy đỏ); là: "Sân biến thành ao, nhà đổ chái/ Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay". Còn thì ông chỉ chạm nhẹ, lướt qua, kiểu như "Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi", như "Sương trắng người đi lại nhớ người", chứ không kỹ càng tô vẽ khiến tâm trí bạn đọc bị phân tán vào cảnh trí. Ông muốn bạn đọc như ông, nhập hồn vào từng cung bậc tình cảm của nhân vật…

Âm hưởng chung của "Núi Đôi" là buồn. Có chỗ buồn tê tái, buồn đến thẫn thờ:

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen.

Cứ nhìn vậy mà hoài nhớ và rồi cái nhìn ấy đã nhòa đi. Câu thứ ba là một câu thơ nhòe nước mắt, còn câu cuối là một tiếng nấc:

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em.
Khổ thơ thứ 15 trong bài thơ là một khổ đặc biệt trầm lắng:
Ai biết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau, anh gọi: em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng

Tác giả như thủ thỉ nói với người đã mất. Chữ "đồng chí" trong câu thơ bình thường sẽ bị cho là lên gân, song ở đây, ở trường hợp cụ thể này, nó lại tạo hiệu quả cảm xúc rất mạnh, khiến trái tim ta thắt lại. Trước Vũ Cao, vào những năm đầu chống Pháp, Nguyễn Đình Thi cũng đã từng dùng hai chữ "đồng chí" để gọi cô bé trong một bài thơ của mình: "Chiều mờ gió hút/ Nào đồng chí - bắt tay/ Em/ Bóng nhỏ/ Đường lầy". Thật không sao nói hết tấm lòng yêu thương vô bờ bến của các tác giả được dồn nén trong mấy chữ "đồng chí" đầy ngọt ngào mà đắng đót ấy, tưởng như các ông đang thay lời non nước bày tỏ sự âu yếm, tri ân đối với bao phận nữ nhi hy sinh trong thời chiến...

Kể thì bài thơ cũng có thể kết thúc ở khổ thơ trên. Song nếu vậy dễ bị quy là "reo rắc sự bi quan". Chẳng gì thì trước đó mấy năm, bài thơ "Ngò cải đơm hoa" của nhà thơ Lưu Trọng Lư, chỉ vì cái kết nêu hình ảnh một cô gái có tâm trạng buồn khi không thấy chồng trở về trong đoàn quân chiến thắng, đã bị quy kết là "ủy mị, thiếu tinh thần OK9 đã banh" và có nhà phê bình thẳng cánh đòi "đuổi bài thơ hiu hắt này ra khỏi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Có thể là do Vũ Cao không muốn rơi vào tình cảnh tương tự, cũng có thể là do khí chất “nhà thơ mặc áo lính” mà ông thấy bài thơ cần phải được nối thêm 4 câu:

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm

Bình thường, hình ảnh sao trên mũ được ví với sao sáng dẫn đường, nói vậy dễ bị cho là sáo, là cương. Song chính giọng thơ không giấu được sự bùi ngùi của tác giả khiến ý thơ trở nên dễ tiếp nhận hơn. Chưa kể, kết hợp với một hình ảnh ví von vừa khoáng đạt vừa dung dị ở hai câu dưới, khổ thơ càng thêm xúc động. Người đọc không thương cảm sao được khi từ đây, họ biết người lính ấy sẽ sống, chiến đấu với một loài hoa ngát thơm trong tâm tưởng và ý chí của một ngôi sao lấp lánh ánh sáng cô đơn…

14/3/2011

Phạm Khải

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.