Đọc “Ám ảnh chữ” của Hữu Thỉnh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2025

Nhà thơ Hữu Thỉnh - Cây bút phê bình cự phách

Còn nhớ năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh công bố tập lý luận phê bình đầu tiên nhan đề “Lý do của hy vọng” chúng tôi đã viết bài khẳng định, do phải làm công tác Hội Nhà văn nên nhà thơ buộc phải viết lý luận phê bình. Bởi phải chủ trì các hội thảo, hội nghị, các lần trao đổi học thuật, các đợt triển khai Oki9 đăng ký cá cược World Cup 2026 của cấp trên.

  • Nhà thơ Hữu Thỉnh: Ám ảnh chữ
  • Nhà thơ Hữu Thỉnh: Những cấu trúc sáng tạo khi viết trường ca

Mười năm sau, tác giả lại cho ra đời cuốn tiểu luận phê bình thứ hai “Bến văn và những vòng sóng”. Tập này gồm 61 bài viết trong đó có một số là những tổng kết hội thảo, diễn văn, báo cáo tổng kết của người đứng đầu Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Việt Nam. Các bài phê bình văn học viết về các nhà văn, nhà thơ lớn như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Thảo…

untitled-1.jpg -0
Nhà thơ Hữu Thỉnh tại lễ ra mắt sách “Ám ảnh chữ”.

Tập “Ám ảnh chữ” này được viết trong vòng 5 năm. Gồm 47 bài viết. Điều quan trọng và khác biệt nhất chính là nó được viết khi người viết đã được giải phóng khỏi mọi chức vụ. Lúc này đọc và viết chỉ còn là sự sung sướng và tự nguyện. Tác giả thổ lộ “dần dần lĩnh vực phê bình văn học làm tôi hứng thú không kém gì sáng tác”. Sẽ không có những tổng kết, báo cáo, diễn văn, đề dẫn. Bạn đọc sẽ thấy nội lực của Hữu Thỉnh khi trở lại với những tác giả mà anh đã viết trong tập trước với những khám phá mới.

Ví dụ như đánh giá về Chế Lan Viên, Hữu Thỉnh chỉ ra Chế Lan Viên có “vẻ đẹp âm tính” so với thơ mới mang “vẻ đẹp dương tính”. Đối với thơ Cách mạng thì Chế Lan Viên cũng góp 3 điều khác biệt đem lại sự hài hòa cho thơ Cách mạng. Đó là thăng hoa trí tuệ, đanh thép của chính luận và tráng ca, hùng ca. Chưa một nhà nghiên cứu nào đánh giá, so sánh như vậy. Hữu Thỉnh cũng tranh biện với những ý kiến khác để bảo vệ “Di cảo” của Chế Lan Viên “Di cảo là bản lĩnh, là nhân cách, là tâm huyết lao lung của một nhà thơ kì tài chứ không phải là sám hối, hoặc là phủ định như một số người cố tình gán ghép”.

Đánh giá về sáng tạo của Trần Dần trong trường ca “Đi! Đây Việt Bắc”. Hữu Thỉnh ví dụ 9 lần viết về lá, không lần nào giống lần nào, “Mỗi lần nhắc đến lá là mỗi lần thể hiện một cách nhìn, một tâm trạng khác nhau. Thế mới biết sáng tạo là câu chuyện của vô cùng”. Rồi người viết khẳng định: “Trần Dần đã đóng góp một giọng điệu riêng, một phong cách riêng, mang đến một giá trị bổ sung, làm phong phú thêm nền thơ ca chống Pháp trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt”.

Chúng ta đều biết Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ với nhiều thành tựu. Tác giả có những tập thơ, những tập trường ca được đánh giá rất cao. Đó là ngòi bút thơ ca tài hoa, sâu sắc. Với lợi thế đó, tác giả viết nhiều bài phê bình thơ của người cùng giới nổi bật trong tập này. Thống kê nhỏ cho chúng ta thấy có 4 bài tổng hợp, khái quát và phê bình chân dung ("Góp thêm cách nhìn về nửa thế kỉ văn học", "Truyện ngắn “lá cờ chuẩn” của Hữu Mai được dựng thành phim như thế nào", "Cảm nhận “Những bức chân dung văn hóa” của Hoàng Kim Đáng và Văn hóa trong quá trình OK9 đã banh nước ta thành một nước phát triển"), Hữu Thỉnh chỉ có 9 bài viết phê bình văn xuôi so với 34 bài viết về thơ và trường ca. Như vậy đã rõ về việc dụng sở trường của mình của cây bút phê bình Hữu Thỉnh.

Viết về thơ bao gồm viết về tập thơ, về đời thơ, về trường ca của ai đó, tác giả đều đọc rất kĩ. Không ít lần chúng ta biết được công phu đọc của anh. “Tôi tự khuyến khích đọc thật chậm, đọc đi đọc lại rất kĩ từng bài để thấy hết những cố gắng của tác giả”. Hoặc “Tôi đã nhiều lần đọc tác phẩm này, lần nào cũng không cầm được nước mắt”.

Khi bình phẩm, bao giờ Hữu Thỉnh cũng chú ý đến sự tìm tòi, đổi mới về nội dung và bút pháp. Không ít lần, để thuyết phục bạn đọc, nhà thơ Hữu Thỉnh trở thành nhà bình thơ, bình bài thơ hay khổ thơ mà anh cho rằng độc đáo, sáng tạo.

Chẳng hạn, Hữu Thỉnh sau khi nhận định đã dẫn ra bài “Dựng nhà trên dãy Hoàng Liên” của Vũ Quần Phương, “một bài thơ toàn bích” và say sưa bình từ trang 184 đến 186. Ví dụ khác khi viết về Trần Nhương, tác giả vừa bình, vừa khen các bài thơ “Làng Sỏi”, “Vầng trăng trên đèo Ba Bông”, và “Vừa đủ”. Viết về nhà thơ Gia Dũng, Hữu Thỉnh bình kĩ hai bài thơ của tác giả là “Đò đêm” và “Chừng nào em về làng Đót?" rồi sung sướng kết luận “Tôi muốn nói lên sự sung sướng của nỗi bất ngờ và bất ngờ một cách sung sướng khi khám phá ra một Gia Dũng rất lạ, rất khác”.

Đọc các bài viết về thơ và trường ca, bạn đọc luôn thích thú được tác giả Hữu Thỉnh chỉ ra và chia sẻ những “câu thơ nhan sắc”. Tất nhiên không phải lúc nào tác giả cũng chọn đúng, cũng làm người đọc đồng tình, không chút phân vân. Nhưng đại đa số những câu thơ nhan sắc mà Hữu Thỉnh khen thì đúng là nhan sắc thật. Nhiều lắm các ví dụ, song chỉ dẫn ra một số câu tiêu biểu:

"Sau khi trải nỗi khổ to bằng thế giới/ Mẹ nhỏ lại/ Bằng đứa cháu kia thôi/ Một cô bé tóc bạc" (Trúc Thông).

"Chiếc ba lô bé nhỏ/ Treo vách nhà/ Đựng những ngày đẹp nhất đi xa" (Y Phương). "Hạt sương/ Ngủ trên chiếc lá/ Giật mình thức giấc/ Thấy mình màu xanh" (Trần Lê Khánh).

Không chỉ tinh tế về việc chọn những câu thơ nhan sắc, Hữu Thỉnh cũng rất giỏi việc khái quát nét riêng, độc đáo của mỗi nhà thơ mà anh động bút. Chỉ nêu hai ví dụ:

Đánh giá cống hiến của Bằng Việt:

“Sau hơn nửa thế kỉ cầm bút, Bằng Việt đã có những cống hiến xuất sắc về sáng tác, dịch thuật và khảo cứu. Anh là nhà thơ hàng đầu của thế hệ chống Mỹ. Thơ anh sớm có cách nhìn riêng, giọng điệu riêng, bút pháp riêng. Chất suy tưởng trong thơ anh phát triển theo sự vận động và thay đổi của OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao”.

Đây là khái quát về Thi Hoàng, người luôn tìm tòi đã có “những câu thơ đẳng cấp và chắc sẽ có tuổi thọ cao”. “Đã rõ là Thi Hoàng đau đáu về đời, đau đáu về thơ. Nhưng anh vốn kị to tiếng, nên mạch thơ không bị lộ thiên, nó chìm nhuyễn vào sự sống. Và nhất là nó thành nhịp thở của hồn anh. Một người đang tự bạch, đang ngộ, đang chuyển cái năng lượng tâm hồn thành năng lượng chữ, người ấy phải nung nấu lắm chứ”.

Khác với Vũ Quần Phương độc canh ở mảng phê bình thơ, nhà thơ Hữu Thỉnh còn quan tâm đến văn xuôi, cụ thể là chín tập sách tiểu thuyết, ký sự. Ở đây, hơi tiêng tiếc là cái tinh tế, sắc sảo đã giảm đi mấy phần. Có lẽ người viết phê bình đã rời những sở trường của mình chăng?

Thành công hơn cả là bài viết về Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Hàn. Các bài viết về Phùng Văn Khai, Nguyễn Hữu Nhàn, Hoàng Quốc Hải, Trình Quang Phú, Hoàng Quảng Uyên thì thành công vừa vừa bởi một điều kị là tóm tắt, kể lại nội dung tác phẩm dài quá. Người đọc không thấy rõ nhà văn được nói đến. Nhất là với tác phẩm của Hoàng Quảng Uyên. Khi viết về tập “Trông vời cố quốc”, người đọc không thấy tác giả Hoàng Quảng Uyên đã đành, mà hình tượng Bác cũng không rõ.

Chỉ thấy nhà sử học không chuyên Hữu Thỉnh trình bày say sưa các sự kiện lịch sử xảy ra với Bác từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước đến khi về Trung Quốc tham gia Hồng quân Trung Quốc mang quân hàm Thiếu tá với bí danh Hồng Quang. Trong cuốn sách vẫn còn nhiều lỗi chính tả do sơ suất đọc morát, và một số trích dẫn sai. Thật gay là bốn câu thơ ngắn trích, ba câu đều có từ sai hoặc thiếu:

"Trong vườn em trái ngọt đã “thấm” cành/ Hoa đã nở hương thơm dìu dặt tỏa/ Hạnh phúc đến chật vườn ong bướm “hót”/ Gió ôm mùi hương bay xa" ( tr. 470).

Tôi đối chiếu với “Sự im lặng biếc xanh”, trang 141, của Như Bình thì thấy tác giả Như Bình viết là: thắm cành, ong bướm hát và Gió ôm những mùi hương bay xa.

Tôi muốn dành những lời cuối để nói đến bài đầu tập “Góp thêm cách nhìn về nửa thế kỉ văn học”. Đây là một bài viết sâu sắc, công phu, vừa bao quát, vừa chi tiết, chi tiết từng tên tác giả và tác phẩm. Nhà phê bình Hữu Thỉnh đã khái quát rất chính xác hai việc lớn của 50 năm qua: Trả nợ quá khứ và nhập cuộc đổi mới. Tác giả đã giải thích rõ ràng, rất thuyết phục. Dẫn chứng về tác giả, tác phẩm vô cùng phong phú.

Riêng vấn đề biển đảo, Hữu Thỉnh dẫn chứng cha ông ta nói rừng vàng, biển bạc, mà anh chưa được đọc một áng văn hay nào viết về Biển. Nhưng 50 năm qua đã có "Đảo chìm" của Trần Đăng Khoa, "Trường ca Biển" của Hữu Thỉnh, "Tổ quốc nhìn từ Biển" của Nguyễn Việt Chiến, "Hòn đảo cuối chân trời" của Trần Nhuận Minh, "Quần đảo san hô" của Hà Đình Cẩn, "Từ biển mà lên" của Trịnh Công Lộc, "Hạ thủy những giấc mơ" của Nguyễn Hữu Quý, "Sóng trầm biển dựng" của Đoàn Văn Mật, "Đảo chìm và hơi thơ rừng chồi" của Vương Trọng, "Nơi khôn thiêng của biển" của Nguyễn Hữu Quang, "Trường Sa kì vĩ" của Sương Nguyệt Minh, "Biển xanh màu lá" của Nguyễn Xuân Thủy. (Mách nhỏ nhà phê bình Hữu Thỉnh là Trường ca "Biển mặn" của Nguyễn Trọng Tạo rất đáng kể vào đây!). Thật kính phục sức đọc, sức nhớ của một nhà thơ.

Nhà thơ Hữu Thỉnh viết “Phàm làm thơ, ai cũng mong đợi một lời bình. […]Sợ nhất là rơi vào im lặng”. Không biết tác giả có đợi lời bình từ việc viết phê bình hay không. Nhưng tôi cứ viết lời bình này, vì tôn trọng, khâm phục, quý mến nhà thơ tài năng Hữu Thỉnh, càng thêm quý mến nhà phê bình cự phách Hữu Thỉnh với 3 tập sách đã in!

Hà Nội, 17/6/2025

Vũ Nho

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.