Nguyễn Phi Khanh - Kẻ sĩ trong thời loạn

Nguyễn Phi Khanh (...) sống ở cuối đời Trần (1255-1400), sang cả nhà Hồ (1400-1407). Tổ tiên ông gốc ở Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội ngày nay. Ông là một kẻ sĩ tài năng mà sinh bất phùng thời.

  • Tiếng sáo thiên thai!
  • Bản lĩnh ngoại giao Trần Nhân Tông

Nguyễn Phi Khanh là một thi sĩ lớn. Tác phẩm của ông hiện còn khoảng hơn tám mươi bài thơ chữ Hán.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ THÔN CƯ CẢM SỰ KÝ TRÌNH, một trong khá nhiều bài thơ hay của Nguyễn Phi Khanh.

nguyễn phi khanh 1.jpg -0
Chân dung Nguyễn Phi Khanh.

Phiên âm:

THÔN CƯ CẢM SỰ KÝ TRÌNH BĂNG HỒ TƯỚNG CÔNG

Đạo huề thiên lý xích như thiêu,
Điền dã hưu ta ý bất liêu?
Hậu Thổ sơn hà phương địch địch,
Hoàng Thiên vũ lộ chính thiều thiều!
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
Hảo bả tân thi đương tấu độc,
Chỉ kim ngọa bệnh vị năng triều.

Dịch nghĩa:

Ở QUÊ XÚC ĐỘNG TRƯỚC SỰ VIỆC XẢY RA,

GỬI TRÌNH TƯỚNG CÔNG BĂNG HỒ

Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,
Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu.
Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ,
Mưa móc của Hoàng Thiên hãy còn xa vời!
Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt,
Mỡ màng của dân đã cạn hết nửa,
Xin đem bài thơ mới này thay cho tờ tấu,
Hiện nay đang nằm trên giường bệnh chưa thể đến chầu được!

Dịch thơ

Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu,
Ngoài nội kêu than xiết nỗi sầu.
Dải đất non sông khô đến thế,
Từng trời mưa móc vắng làm sao!
Lưỡi tham quan lại vơ hầu kiệt,
Mạch sống dân gian cạn mỡ dầu.
Thơ mới này xin thay biểu tấu,
Vì đang nằm bệnh chửa về chầu.

(Đào Phương Bình dịch)

Ruộng nương khô cháy cả rồi,
Đồng quê than vãn hỏi trời nơi đâu?
Non sông nứt toác mặc dầu,
Móc mưa Thiên đế trên đầu quá xa.
Tham quan liếm sạch sơn hà,
Mỡ màu dân, chỉ còn ba bốn phần.
Xin đem lời mới thay dân,
Thân tàn mong được xá phần tôi con!

(Vũ Bình Lục dịch)

Đây là bài thơ Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh) viết gửi ngài Tướng công Băng Hồ, tức cụ Tư Đồ (Tể tướng) Trần Nguyên Đán, khi ông đang nằm trên giường bệnh ở nhà mình, làng Nhị Khê, khá xa kinh thành Thăng Long.

Ta từng biết, Ứng Long được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán gả con gái yêu là cô tiểu thư khuê các Trần Thị Thái, sau sinh ra người anh hùng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, Danh nhân văn hóa thế giới, Đại thi hào Nguyễn Trãi.

Mặc dù Ứng Long đã thi đỗ Tiến sĩ dưới triều Trần, vào năm Long Khánh thứ 2 (1374) đời vua Trần Duệ Tông, nhưng ông không được bổ làm quan to, xứng với tài năng của ông. Là bởi vì Thượng hoàng Trần Nghệ Tông phán rằng như thế là phạm Lễ, thường dân mà dám chòi lên lấy con gái hoàng thất. Do vậy, Nguyễn Ứng Long phải ở nhà, dạy học kiếm sống là chủ yếu. Sau chắc nể tình cụ Tư Đồ Nguyên Đán, cho nên cả hai ông con rể Trần Nguyên Đán (Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Hán Anh) cũng được bổ một chức quan nhỏ, chức Kiểm Chính thuộc ngành tư pháp. Mãi đến đời nhà Hồ Nguyễn Phi Khanh lại ra làm quan (1401), thăng dần tới chức "Thái tử tả tán Thiện đại phu", "Tư nghiệp Quốc Tử Giám".

nguyen-trai-1.jpg -0
Tranh minh họa Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải.

Bài thơ thay cho tờ tấu của người thường dân, gửi vị đại quan trọng yếu của triều Trần, như một bản báo cáo về hiện tình OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao, cùng nỗi lo của kẻ sĩ trước vận mệnh của nước nhà.

Bốn câu đầu, tác giả tập trung tả cảnh đại hạn ở chốn dân quê:

"Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,
Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu"
.

(Đạo huề thiên lý xích như thiêu/ Điền dã hưu ta ý bất liêu)

Ruộng nương của nông dân đang lâm vào cảnh khô hạn, đỏ như cháy (xích như thiêu). Nghĩa là không còn nhìn thấy màu xanh, màu tươi non của sự sống nữa. Không chỉ một nơi, mà cái họa ghê gớm này là ở khắp nơi, những ngàn dặm (thiên lý) kia! Thế thì thiên tai đã thật là khủng khiếp, cấp bách lắm rồi! Nhưng dân đen còn biết làm gì? Biết kêu ai, biết chờ ai cứu giúp đây? Kêu trời ư? Trời cao thăm thẳm, sao nghe thấu nỗi rên xiết của dân đen! Kêu triều đình ư? Triều đình xa dân lắm, đâu có nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của dân đen? Hoặc giả họ có nghe thấy, thì họ cũng giả câm giả điếc mà thôi. Cho nên, "Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu"… Đó chính là một hiện thực vô cùng đau xót, được tác giả khái quát trong hai câu thơ đầu.

Hai câu tiếp theo, vẫn là nói cái cảnh đại hạn, nhưng ở mức cụ thể hơn, sâu sắc hơn:

"Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ,
Mưa móc của Hoàng Thiên hãy còn xa vời
".

(Hậu Thổ sơn hà đương địch địch/ Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều).

"Hậu Thổ", tức thần Đất. Vậy, non sông của thần Đất (Hậu Thổ sơn hà) mà còn khô khát nứt nẻ toang hoác ra như thế, đến như thần linh cũng phải bất lực, thì dân đen biết làm thế nào? "Hoàng Thiên", tức Ngọc Hoàng Thượng đế, tức ông trời, cũng chưa chịu ban mưa móc xuống trần gian cứu giúp dân lành. Chữ Mưa móc (vũ lộ), vừa có ý nói là mưa, những cơn mưa từ trên trời, lại vừa có ý chỉ ơn huệ của "Hoàng Thiên", cũng có thể ngầm chỉ cái ơn "mưa móc" của triều đình. Vậy mà trông trời, trời cao vời vợi, hy vọng mong manh, xa vời lắm! Cũng là nói về cảnh đại hạn, nhưng ở đây lại đề cập đến những đấng quyền lực, quyền năng siêu nhiên, để gửi chút tâm trạng ấm ức, bất bình của tác giả, cũng là tâm trạng của muôn dân.

Hai câu 5 và 6, tỏ thái độ bất bình, phê phán quyết liệt đối với bọn quan lại tham nhũng:

"Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt,
Mỡ màng của dân đã cạn mất quá nửa
".

(Lại tư võng cổ hồn đa kiệt/ Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu).

Cái lưỡi dơ bẩn của bọn tham quan ô lại (lại tư võng cổ) đã vơ vét sạch, liếm sạch, liếm đến cạn kiệt (đa kiệt) nguồn sống của dân đen rồi. Thóc lúa, của cải của tầng lớp cùng dân khốn khổ, chúng cũng vơ vét sạch. Thế thì dân đen còn biết sống bằng gì? Đến như "Mỡ màng của dân đã cạn mất nửa"! Sức dân gần như đã đến mức kiệt quệ rồi còn gì!

Nguyễn Trãi sau này có lẽ cũng tiếp thu tinh thần của hai câu thơ này của cha mình, mà phát triển thành những câu văn tố cáo tội ác của giặc Minh sắc hơn kiếm: "…kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán"… (ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ). Đương nhiên, đối tượng tố cáo là khác nhau, nhưng tội ác của NỘI TẶC, nào có kém chi tội ác của ngoại xâm? Đơn giản, bởi chúng đều là những kẻ bất nhân bất nghĩa cả! Mà PHÀM LÀ những kẻ bất nhân bất nghĩa, thì thần và người đều căm giận, sao có thể dễ dàng dung tha cho chúng được?

Hai câu cuối, dường như có vẻ không nằm trong nội dung bài thơ. Nó chỉ có ý nghĩa như một lý do không thể đến trình tấu trực tiếp của người đang nằm bệnh tại nhà, thế thôi! Nhưng mà thế cũng là đủ.

Thơ bày tỏ nỗi đau nhức nhối của kẻ sĩ trước vận nước đang suy, nghe xót xa đau đớn vô cùng! Con cháu ngày nay có nghe được tiếng kêu đứt ruột này hay chăng, có tỉnh ngộ ra hay chăng?

Hà Nội - Xuân 2012-2017

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.