Nguyễn Ngọc Tư và tiếng gọi tha thiết của chân trời

“Tiếng gọi chân trời” không chỉ là một tổ hợp những con chữ trải trên trang giấy, mà là cuộc hành trình vượt thời không về những chiều kích của thiên nhiên, thời cuộc và trái tim con người.

  • Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa
  • Nguyễn Ngọc Tư: Tiếng nói nữ quyền

Sông - biểu tượng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 khắc khoải

Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành nhà văn tiêu biểu của văn học đương đại Nam Bộ với hơn 20 đầu sách xuất bản, trong đó có tác phẩm là best-seller với hơn 150.000 ấn phẩm, hàng loạt OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á nghiên cứu lớn nhỏ về phong cách sáng tác, biểu tượng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026,... xoay quanh.

Liệu ta còn có thể viết gì về cô, về những tác phẩm mà có lẽ vẫn sẽ là cánh cổng thần kỳ lập tức đưa ta ùa về miền Tây Nam Bộ? Tựu trung, điều làm nên nét đặc sắc và sức hấp dẫn riêng biệt ở thế giới của Tư chính là cảnh sắc và con người đậm chất miền Tây bao bọc trong lớp văn chương trĩu nặng tựa phù sa.

Nguyễn Ngọc Tư  và tiếng gọi tha thiết của chân trời -0
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Nếu trong “Ngọn đèn không tắt”, “Giao thừa”, “Nước chảy mây trôi”, “Cánh đồng bất tận”, “Hành lý hư vô”, “Biên sử nước” đến tập truyện ngắn gần nhất là “Trôi”, những dòng sông đều in bóng trong mỗi trang văn Tư ký họa, thì trong “Tiếng gọi chân trời” quy luật ấy cũng không ngoại lệ.

Sông nước xuất hiện trong văn chương của cô như một thứ ám ảnh kỳ lạ. Không chỉ bởi viết về miền sông nước thì phải tả sông, như nói về sơn cước thì phải tả núi non trùng điệp. Trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, sông nước và những gì gắn liền với nó xuất hiện như máu thịt, như một phần hồn cốt đã hằn in trong cả trang viết lẫn con người.

Với những ghi chép tản mạn, “Tiếng gọi chân trời” có thể không OK9 đã banh các hình ảnh Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 với nhiều hàm nghĩa như trong tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư, nhưng đây là mảnh đất để cô trải lòng về những điều tưởng chừng vụn vặt mà lại mang ý nghĩa to lớn, giàu sức gợi và cũng đầy ám ảnh.

Văn hóa sông nước khúc xạ vào văn chương Nguyễn Ngọc Tư những bức tranh muôn hình vạn trạng của OK9giaitri đăng nhập Nam Bộ, đâu đâu cũng cựa quậy những dòng chảy thẳm buồn. Trong “Tiếng gọi chân trời”, những dòng chảy, có lúc nó là lớp ký ức ngọt ngào giòn tan trong cơn mưa rào ào qua xóm Bà Điều; trong con kinh Rạch Rập hiền từ đón đứa trẻ năm nao vào lòng mặt nước không chút gợn; hay vạt nắng cuối chiều kéo dài bóng đình Tân Hưng ra tận mé nước.

Nhưng có lúc nó đắng đót chua cay trong cái nắng giáp hạt “đến bạc xương, đến giòn rễ cây” ở lớp hiện thực khô cong về cánh đồng nứt nẻ, những liếp mía chết khô. Với bao trắc ẩn, ái ngại, và cả giật mình dồn về vùng đồng bằng nức tiếng trù phú này. Như ý nghĩ về sắp tới nước có đủ chan ngập đồng mình của nhân vật chị (Những cuộc trôi khô); hay những can nước ngọt chắt chiu, những con kinh trơ lòng trước cơn bệnh ngặt mang tên hạn mặn (Trơ lòng).

Ông già không tên và nhân vật tôi trong “Ngắm nước” tự nhận mình là hai kẻ đi lạc, bởi “đâu ai khác dành cả tiếng đồng hồ nhìn nước ra vô bãi” ở quán Đắng khi “chung quanh người ta đang nhìn nhau, nhìn điện thoại”. Và nước, còn là sợi dây lần về ký ức, với “loạt mùi từ bỏ danh tính riêng của mình để hòa vào nước, thành một khối hương ngòn ngọt đi qua những xóm làng, những đập tràn, làm thành ký ức” về một miền Tây từng trù phú, phồn sinh, về con nước lớn ròng làm nên những vụ mùa bội thu, những đồng bằng màu mỡ.

Tựa những vòng tròn đồng tâm, khi sông nước khắc khoải, nó cũng khiến nhân vật và cả tác giả nếm trải nỗi đau. Niềm đau ấy có thể khởi nguồn từ sự nghèo khó, hệ luỵ của quá trình đô thị hóa, quá trình đổi thay của thời cuộc, và sự cô đơn của con người trước sông nước bao la. Sông nước trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư, vì lẽ đó, vừa là cảnh quan đặc trưng, là bối cảnh sinh hoạt, vừa là một phần của tấm thẻ căn cước nhận diện mỗi con người.

Những chân dung đau đáu

“Tiếng gọi chân trời” lần sâu vào nỗi khắc khoải bên trong con người qua những đổi thay hữu hình và vô hình. Sông nước và nỗi cô đơn, cảnh vật và con người trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng không tồn tại tách biệt mà trở thành hai đường thẳng cùng song hành với nhau trong mê lộ văn chương. Một đường thẳng mở ra chiều rộng của vùng không gian địa lý - văn hóa đặc thù, một đường thẳng lại đi vào chiều sâu của thân phận và trái tim con người.

Và cũng trên chính mặt đất, dòng sông, bầu trời đó, con người hoặc bắt đầu mắc kẹt trong nỗi cô đơn dâng đầy bởi con nước, hoặc bị cám dỗ bởi những tham vọng vật chất và bắt đầu đổi thay. Họ là những người phụ nữ, những người Ok986 vip Thiên đường trò chơi, những đứa trẻ, những kẻ lạc thời hoặc gắn chặt đời mình với tảo tần, hy sinh hoặc bị ám ảnh và bẻ cong bởi thời cuộc, hoặc như một nốt nhạc đi lạc, bị người đời gắn nhãn lập dị, khác thường.

Khắc khoải và day dứt, bạc rạc và nổi trôi, chân dung người phụ nữ là nét vẽ của tần tảo, hy sinh. Người mẹ của nhân vật tôi được miêu tả với chiếc bả vai bén ngót nhấp nhô sau làn áo mỏng, đôi cánh của tự do bị giấu đi hoặc bị cắt bỏ bởi chính mình (Cánh); nhân vật khác lại hiện lên với nụ cười đông cứng trước rừng ống kính đen ngòm về người đàn bà “dẫu đang tung chài, hái bông điên điển, hay rửa bông súng với hậu cảnh chòm thốt nốt, kiểu gì thì cũng đẫm mồ hôi” (Bóng của mồ hôi); cô gái tên Ngọ hiện lên với hình ảnh cơn đau quặn bụng ở mỗi kỳ “mắc kẹt” (từ lóng chỉ kỳ kinh nguyệt của phụ nữ ở miền Tây), có chăng cũng đang mắc kẹt trong tấm lưới số phận của chính mình.

Hay thím Tam suốt ngày đi mót lá cất nhà cho chồng đốt, mợ Tòng nhấm nháp giữa hai răng mẻ thứ muối ớt đắp trên mấy vết bầm ở gò má, cẳng tay, dì Lanh, cô ba Ái trong men tình mờ ảo (Vùng vẫy),… luôn có một sợi dây vô hình trói buộc họ với nỗi đau nào đó. Và họ, đang tâm nhấm nháp dư vị của nỗi đau bọc đường.

Nguyễn Ngọc Tư  và tiếng gọi tha thiết của chân trời -1
Bìa cuốn “Tiếng gọi chân trời” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Còn những con người sống bên lề ký ức, họ kỳ quặc, quái lạ, họ không thuộc về một đám đông nào. Nhưng khi nhìn đủ sâu, nghe đủ kỹ, ta mới vỡ ra rằng chính họ là những con người đáng thương và đáng trân trọng. “Thầy Thủy cụt giò” viết lên lá bức chúc thư cho xương thịt bạn bè bị vùi trong đất, ông Chín Rô vá sông rách, núi rách, cây rách bằng đôi tay không bao giờ nghỉ (Ẩn hiện sau sương); còn ông già héo quắt kéo va li hồng nhẩn nha bên đoạn đường ngang khu chợ (Bên cõi), ông vừa nói cho ta biết những mưu cầu vật chất sau rốt chỉ là khói sương.

Và đã nói về Nguyễn Ngọc Tư thì không thể không viết về nỗi cô đơn muôn trạng bám sâu trong mỗi nhân vật. Nỗi cô đơn, chúng thường hiển hiện khi con người đứng giữa sông nước bao la. Họ thảng thốt về người chồng hiền lành nay biến thành kẻ khác với những sát phạt hơn thua không hồi kết trên cõi mạng (Dấu đã không tan). Họ giật mình vì trong xóm chợt có ai đó vì ranh đất mà vác phảng rượt chém nhau, ai đó vì tiếng nói thấp cao mà đem lửa đốt nhà (Phúc lành cũng tận). Họ cô quạnh trước những “con mắt điện tử” trừng trừng xoi mói của điện thoại thông minh, mạng Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, bày ra những cuộc oằn mình thảng thốt, những trượt chân biền biệt dưới ánh nhìn vô cảm, dửng dưng (Trong rừng mắt).

Nhưng ngay khi cám dỗ biến người trẻ thành những cánh chim mải miết bay đến đô thành trong “tiếng gọi” lập nghiệp, mưu sinh, thì cũng chính “tiếng gọi” xưa đưa họ về với quê hương, nguồn cội (Tháng Giêng ngọn gió ra đi, Cũng có người về, Gió thổi đồng nhà). Dẫu bị cám dỗ, đổi thay, cõi lòng lạnh trơ hóa đá, tình thương vẫn có thể chiến thắng và lần nữa biến vùng hoang địa mênh mông trong trái tim con người thành thảo nguyên xanh ngát của hồn hậu nghĩa tình, chân thành hào hiệp - dòng chảy bao đời vẫn thắm thiết trong huyết quản người miền Tây.

Sau tất cả, ta bước ra khỏi trang sách, với tình yêu và niềm tin vẫn còn. Thoạt đầu còn ngờ ngợ, như thể đã lãng quên ký ức, nhưng một khi tâm tư đã tuôn chảy, ký ức về những dòng chảy phía “chân trời” lại cuồn cuộn trở về. Bởi “sao mà dừng nghỉ được yêu thương, làm gì có mùa mà chia nó”.

Phan Thiên Di

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.