Nghĩ về thơ hay

Con người có năm giác quan (ngũ quan) - năm cửa để ngoại giới qua đó tác động vào nội giới, tạo xúc cảm, trước hết là những xúc cảm tự nhiên, bản năng. Khi năm cửa ấy mở thì cảnh vật, âm thanh, mùi vị, màu sắc, ấm lạnh… mới "vào người", làm cho người ta khác với khi năm cửa ấy đóng kín...

Nhưng với người có tri thức, có kinh nghiệm sống đặc biệt, cao cấp, những xúc cảm tự nhiên, bản năng kia, ngay lập tức, trở thành xúc cảm thẩm mỹ.

Khi xúc cảm thẩm mỹ bùng lên mãnh liệt, người ta cảm thấy hạnh phúc.

Thơ hay (câu, đoạn, bài) là thứ thơ biết làm cho xúc cảm thẩm mỹ của người ta bùng lên mãnh liệt, làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc.

Nhưng thơ hay, không thể "ngửi" được, không thể "sờ" được, không thể "nếm" được. Nó chỉ còn có hai cửa để đi vào nội giới: Thị giác (đọc bằng mắt) và thính giác (nghe người khác đọc). Tự đọc bằng mắt thì qua chữ, nghe người khác đọc thì qua lời.

Chữ và lời là phương tiện để nhà thơ (có tài) đưa thơ hay đến với người đọc (giỏi). Người đọc không giỏi, các cụ đã có câu: "Đàn gảy tai trâu"! Nhà thơ không có tài, chắc các cụ sẽ bảo: "Đúng là trâu gảy đàn"? Chữ và lời đều được gọi là ngôn ngữ (ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói).

Thế là, nhà thơ như vừa nói, chỉ có một phương tiện để làm ra thơ hay, đó là ngôn ngữ.

Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để "vẽ" ra hình ảnh, khiến người đọc kia "nhìn" thấy.

Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo thanh âm, nhạc điệu, khiến người đọc kia "nghe" được.

Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo mùi vị, khiến người đọc kia "ngửi" được.

Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo vật, khiến người đọc kia "sờ" được, biết nó xù xì như đá đẽo hay mịn mượt như cánh hoa.

Rồi nhà thơ ấy thổi hồn mình, tình mình vào hình ảnh, thanh âm, mùi vị, khiến người đọc kia ái, ố, nộ, hỉ theo mình, như mình, hơn mình.

Thế là, chỉ với ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ, thơ hay trước hết tác động vào thị giác và thính giác, rồi ngay lập tức liên thông với các giác quan còn lại, liên kết với tri thức, kinh nghiệm sống và tình người đọc, làm bùng nổ xúc cảm thẩm mỹ của người đọc, khiến họ hạnh phúc với cả ái, ố, nộ, hỉ trong thơ hay.

Niềm hạnh phúc kỳ diệu ấy, trước khi đọc và nghe thơ hay, người ta không có. Nó kỳ diệu hơn trong đời thường. Nó làm người ta cao hơn đời thường.

Cuốc kêu đêm hè, lựu nở đầu hạ, ta đều biết cả. Thơ Nguyễn Du: "Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Ok9 cool link đăng nhậpờng lửa lựu lập lòe đâm bông". Chỉ thêm có "gọi" với "lửa lập lòe" vào, mà ta sung sướng hơn là chỉ nghe cuốc kêu và trông hoa lựu thật. Thơ hay thích hơn đời thường là như vậy. Tả người quá đẹp, phương Đông thường bảo: "Khuynh quốc khuynh thành" (nghiêng nước nghiêng thành). Nguyễn Du tả Kiều: "Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh" là nói trước, vì đẹp thế, thì mới dẫn đến "Nghiêng nước nghiêng thành" được. "Tổng kết" số phận Đạm Tiên, Kiều chỉ cần hai câu: "Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay thác xuống làm ma không chồng". Sự hiểu đời - kinh nghiệm sống, cho Nguyễn Du hai câu thơ ấy, bằng vạn lời kể lể dài dòng! Cũng phải trải đời và có con mắt thấu thế, Nguyễn Du mới viết: "Kiều rằng: "Những đấng tài hoa/ Thác là thể phách, còn là tinh anh"; "Từ khi đá biết tuổi vàng"; "Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao"... cũng từ ấy mà ra.

Bạch Cư Dị tả thanh âm và Phan Huy Vịnh dịch ra tiếng ta:

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu
Dây to dường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ như vào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.

Hay là:

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa sắt dong xô xát tiếng đao
Cung đàn lựa khúc thanh tao
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây

(Tỳ bà hành).

Nguyễn Du tả tiếng đàn Kiều khi nàng sang gặp Kim Trọng:

Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư Mã "Phượng cầu"
Nghe ra như oán như sầu phải chăng
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Lưu Thủy hai rằng Hành Vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Thế Lữ tả sáo thổi: "Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn/ Tiên nga xõa tóc bên nguồn/ Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu/ Mây hồng ngừng lại sau đèo/ Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi/ Trời cao xanh ngắt - Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về bồng lai/ Theo chim tiếng sáo lên khơi/ Lại theo dòng suối bên người Tiên nga / Khi cao, vút tận mây mờ/ Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh/ Êm như lọt tiếng tơ tình/ Đẹp như ngọc nữ uốn mình trong không (Tiếng sáo thiên thai).

Viết như thế, Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Du, Thế Lữ đã trở thành bậc thầy trong việc dùng ngôn ngữ để tả thanh âm. Thơ hay là như vậy.

Ở trên đã nói tới việc nhà thơ đem tri thức - kinh nghiệm sống, trộn với hồn mình, tình mình, qua ngôn ngữ, tạo xúc cảm thẩm mỹ cho người đọc. Thành tựu này, trong thơ Nguyễn Gia Thiều (Cung oán ngâm khúc), ta thấy "nhan nhản". Ví dụ: "Thảo nào khi mới chôn rau/ Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra/ Khóc vì nỗi xót xa sự thế/ Ai bày trò bãi bể nương dâu". Ví dụ: "Gót danh lợi bùn pha sắc xám/ Mặt phong trần nắng nám mùi dâu". Ví dụ: "Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình tay không". Ví dụ: "Cái quay búng sẵn trên trời/ Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm". Ví dụ: "Trêu ngươi chi bấy trăng già/ Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành". Ví dụ: "Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này". Cũng ý ấy, ở một bài khác, ông viết: "Lép nhép dăm hàng tỏi/ Lơ thơ mấy bụi khương/ Vẻ chi tèo teo cảnh/ Thế mà cũng tang thương".

Không nhìn thấu kiếp người, không thể có thơ hay như thế được. Không yêu thương con người hết mực, không thể có thơ hay như thế được.

Khi Đặng Trần Côn viết - Đoàn Thị Điểm dịch "Chinh phụ ngâm khúc": "Nước có chảy mà phiền khôn rửa/ Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây/ Nhủ rồi tay lại cầm tay/ Bước đi một bước giây giây lại dừng". Hay là: "Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại/ Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang/ Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương/ Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng/ Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy/ Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/ Ngàn dâu xanh ngắt một mầu/ Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai", thì tức là họ đã làm ra những câu thơ bậc thầy về buồn đưa, sầu tiễn rồi.

Những câu: "Tin gửi đi người không thấy lại/ Hoa dương tàn đã trải rêu xanh/  Rêu xanh mấy lớp chung quanh/ Chân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ/ Thư thường tới người chưa thấy tới/ Bức rèm thưa lần dãi bóng dương/ Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/ Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai". Hay là: "Sương như búa bổ mòn gốc liễu/ Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô". Hay là: "Hoa dãi nguyệt nguyệt in từng tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông/ Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng/ Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau", thì đó là những câu thơ bậc thầy về nhớ nhung, trông ngóng, tủi hờn. Thơ hay là thế. Đó là những câu thơ vượt thời gian, vượt cả không gian. Không cần biết Hàm Dương, Tiêu Tương là ở đâu nữa, lòng chỉ đau theo lòng người xưa mà thôi. Mà người nay, tình chẳng thế sao? Nhà thơ chẳng đã "Rót đau lòng ấy vào đau lòng này" đó sao?

Cũng có thơ (câu, đoạn, bài) hay trong thời này mà sang thời khác thì không hay nữa. Khi ấy, do mỹ cảm thời đại khác đi, nó không còn được "cộng hưởng" nhiều như trước nữa. "Khi đại bác gầm thì họa mi ngừng hót", đó là lẽ thường. Thời bình (không chỉ có nghĩa là im tiếng súng), họa mi sẽ hót. Nhiều mi lắm! Nhưng chỉ những con mi có giọng tốt thật và được luyện nhiều, mới hót hay. Thơ hay, dứt khoát không phải là thơ vụn vặt, dứt khoát không do "chụp giật" mà có. Tôi ủng hộ các nhà thơ "không thể không viết ra những câu thơ". Tôi bỏ qua những người "có thể viết ra những câu thơ". Các nhà thơ "không thể không viết ra những câu thơ" may ra mới có thơ hay được

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.