"Nghề nhạy cảm" trong thơ Việt từ năm 1945 trở về trước

Thân phận những người kỹ nữ từ lâu đã được quan tâm trong văn học Việt Nam, thậm chí đã tạo được những nhân vật mang tính chất điển hình hóa, trở thành những tượng đài văn học.
  • "Truyện Kiều" qua góc nhìn hội họa
  • Đọc lại “Truyện Kiều” sau 200 năm Nguyễn Du tạ thế
  • “Hội họa Truyện Kiều” tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Tác phẩm lớn nhất viết về thân phận người kỹ nữ chính là kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, suốt hơn 200 năm qua đã trở thành di sản văn học, là niềm tự hào của người Việt. Và người kỹ nữ đầu tiên được Nguyễn Du xót thương không phải là Thúy Kiều mà là Đạm Tiên:

“Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng”.

Nàng Kiều hồng nhan bạc phận.
Nàng Kiều hồng nhan bạc phận.

Niềm xót thương ấy đã khiến cụ Nguyễn Du dựng lên hình ảnh một người khách viễn phương trượng nghĩa, lúc Đạm Tiên còn sống thì chưa từng gặp mặt, khi tìm đến nơi thì Đạm Tiên đã qua đời. Người khách viễn phương không chỉ “khóc thương khôn xiết” cho Đạm Tiên mà còn chăm lo việc hậu sự cho nàng kỹ càng, chu đáo. 

Quan tài phải là quan tài bằng gỗ tử, xe tang phải là xe có rèm hạt châu, như thế mới có thể đẹp lòng người đã khuất và yên lòng cả người đang sống: “Khóc than khôn xiết sự tình/ Khéo vô duyên bấy là mình với ta/ Đã không duyên trước chăng mà/ Thì chi chút ước gọi là duyên sau/ Sắm sanh nếp tử xe châu/ Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa”.

Cho đến Thúy Kiều, cái tủi nhục bẽ bàng của một cô gái trót có tên trong sổ đoạn trường đã được Nguyễn Du viết nên bao câu thơ đau đớn, thương cảm:

Biết bao bướm lả ong lơi/ Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm/ Dập dìu lá gió cành chim/ Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh/ Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Một mình mình lại thương mình xót xa/ Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường/ Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân...”.

Thế nhưng, cái đoạn cuối được trở về giữa vòng tay gia đình vẫn là một cái kết ít nhiều có hậu. Đó cũng chẳng phải là ước mơ chung của bao thân phận người phụ nữ lạc đường lỡ bước đó sao.

Cùng với “Truyện Kiều”, Nguyễn Du khi viết “Văn tế thập loại chúng sinh” cũng không quên dành những câu cho thân phận người kỹ nữ: “Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp/ Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa/ Ngẩn ngơ khi trở về già/ Ai chồng con tá biết là cậy ai”.

Cũng thời trung đại, có một giọng điệu thơ khác chua chát, cay đắng mỉa mai hơn, đó là bài thơ “Đĩ cầu Nôm” của Nguyễn Khuyến. Nhưng chúng tôi cho rằng sở dĩ có giọng điệu như vậy vì bài thơ còn có ngụ ý bày tỏ một thái độ căm ghét với thực dân phong kiến chứ không phải cụ Tam Nguyên Yên Đổ thiếu đi lòng trắc ẩn với những thân phận gái giang hồ lưu lạc: “Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ/ Trời sinh ra cũng để mà chơi/ Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời/ Chơi thủng trống long dùi âu mới thích”.

Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945 là thời kỳ xuất hiện nhiều nhất những bài thơ thể hiện niềm đồng cảm sâu sắc và sự sẻ chia của các tâm hồn thi nhân với thân phận dập vùi truân chuyên của người ca kỹ. Xuất hiện sớm nhất và có lẽ được biết một cách rộng rãi nhất là bài thơ “Lời kỹ nữ” của Xuân Diệu. Đây là một trong số 15 bài thơ mà theo ý Hoài Thanh là hay nhất của Xuân Diệu, được chọn in trong tuyển tập “Thi nhân Việt Nam”. 

Thi phẩm được viết và đăng trên tờ Ngày nay (1939), sau được đưa vào tập “Gửi hương cho gió” (1945). Nỗi cô đơn của người kỹ nữ trong bài thơ là nỗi cô đơn muôn đời. Trái tim nàng luôn thiết tha nồng ấm nhưng tất cả mọi người khách mãi là kẻ vô tình, đến rồi đi, thường phũ phàng và không mấy khi lưu luyến. 

Đỉnh điểm của tâm trạng cay đắng được đưa đến cao trào trong đoạn kết của tác phẩm: “Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt/ Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi/ Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi/ Gỡ tay vướng để theo lời gió nước/ Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt/ Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi/ Du khách đi, du khách đã đi rồi...”. Bài thơ của Xuân Diệu đã được nhạc sĩ Lê Thương phổ nhạc thành ca khúc cùng tên và được hát rộng rãi từ năm 1941.

Nguyễn Bính lại góp thêm một bi kịch khác vào những câu chuyện của người kỹ nữ mà cũng là bi kịch giả tưởng của chính mình trong bài thơ “Oan nghiệt”. Nhận được tin người kỹ nữ mà ông từng dan díu vừa sinh con gái, thi sĩ đau xót nghĩ đến cái cảnh: “Mẹ con nịt vú cho tròn lại/ Chiều cái hoang đàng lũ khách chơi/ Đời cha lưu lạc quê người mãi/ Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc cười…”. 

Trong một bài thơ khác, Nguyễn Bính xót xa cho hạnh phúc dở dang của người kỹ nữ: “Đêm qua rồi lại đêm qua/ Bao nhiêu đêm lại hóa ra đêm tàn/ Lòng tơ giăng nửa dây đàn/ Ái ân xẻ nửa cho làng ăn chơi/ Môi son hé nửa nụ cười/ Mắt xanh hé nửa... ai người mắt xanh/ Vườn hồng cài nửa then trinh/ Tóc tơ nửa mối, chung tình nửa đêm/ Ong về bướm lại đưa tin/ Càng khăng khít lắm cho duyên càng hờ...”. (Lòng kỹ nữ)

Nhưng người có nhiều bài thơ nhất về thân phận ca kỹ phải kể đến là Vũ Hoàng Chương. Tác giả Thơ say và Mây đã viết ít nhất 4 bài trong thời kỳ trước 1945 về người kỹ nữ và đều chịu ảnh hưởng ít nhiều từ “Tỳ Bà hành” của Bạch Cư Dị. Đó là các bài: “Dựng”; “Dâng tình”; “Đà giang” và “Nửa đêm ca quán”. 

Các từ ngữ như “Tỳ Bà”; “Tầm Dương”; “Giang Châu”; “Hà Mô” và không gian sông nước xuất hiện rải rác và bàng bạc trong cả bốn thi phẩm: “Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/ Nghe hồn li phụ khóc trên tơ/…Chén đã vơi mà ngập gió sương/ Men càng ngây ngất ý Tầm Dương/ Gót sen kỹ nữ đâu bên gối/ Tìm ái ân xưa dễ lạc đường”. (Đà giang); “Cô đơn men đắng sầu trăng bến/ Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa/ Nhịp đổ càng mau nghe ríu rít/ Tê rời tay ngọc lúc buông thưa”. (Dựng); “Nẻo bướm rờn tươi lửa cố đô/ Mộng phai ca quán tủi giang hồ/ Tình dứt men say còn vĩnh biệt/ Tiếng tì đâu vẳng gái Hà Mô”. (Nửa đêm ca quán)… 

Bài “Dâng tình” có một vài âm hưởng giống như tình ý của “Lời kỹ nữ” (Xuân Diệu): “Lũ chúng em ca nhi/ Đón dâng chàng một buổi/ Nỗi yêu mê cuồng dại nén từ lâu/ Rồi mai đây chàng rong ruổi/ Thuyền buộc song mưa/ Ngựa dừng trăng khuyết/ Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt/ Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu…”.

Một kỹ nữ thời xưa.
Một kỹ nữ thời xưa.

Một thi sĩ rất đặc biệt khác đã có những vần thơ về người ca kỹ từ những năm 1940. Đó là cố nhạc sĩ, thi sĩ Văn Cao và bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”. Bài thơ cũng là một cuộc kỳ ngộ và đồng điệu của hai tâm hồn nghệ sĩ nhưng khác với “Tỳ Bà hành”, ở đây thi sĩ là người đệm đàn, còn mỹ nhân là người hát. 

Văn Cao đã sáng tạo ra một từ rất mới để gọi tên người con gái là “phấn nữ”: “Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi/ Từng canh trời điểm một sao rơi/ Tà tà trăng lặn hiu hiu gió/ Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi”. Nhưng rồi cũng giống như cái lẽ muôn đời, hai người chia tay nhau và phấn nữ đã để lại nỗi nhớ, nỗi ám ảnh không nguôi trong hồn thi sĩ: “Em cạn lời thôi anh dứt nhạc/ Biệt li đôi phách ngó đàn tranh/ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế/ Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh”.

Đối trọng lại với tất cả các thi sĩ lãng mạn kể trên, nhà thơ cách mạng Tố Hữu từ tháng 8/1938 đã viết bài thơ “Cô gái sông Hương” trong một cách nhìn khác. 

Bên cạnh hiện thực đen tối của thân phận kỹ nữ, nhà thơ tin tưởng vào một tương lai trong sáng, tốt đẹp, một tương lai được gột rửa sẽ đưa người con gái về cuộc sống hạnh phúc: “Răng không cô gái trên sông/ Ngày mai em sẽ từ trong ra ngoài/ Thơm như hương nhụy hoa lài/ Sạch như nước suối ban mai giữa rừng/ Ngày mai gió mới ngàn phương/ Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân/ Ngày mai trong nắng trắng ngần/ Cô thôi kiếp sống đầy thân giang hồ/ Ngày mai bao lớp đời dơ/ Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay…”.

Nhưng dù đứng trên bút pháp lãng mạn hay cách mạng thì cái nhìn của người nghệ sĩ với những kiếp nữ nhi giang hồ luôn là tấm tình trân trọng, xót thương, sẻ chia và nhung nhớ. Những người con gái bị coi là dưới đáy Ok9 cab trò chơi casino phổ biến ấy bỗng trở nên đẹp hơn ở trong thơ, được tôn lên từ một góc nhìn khác và quan trọng hơn là được thông cảm.

Nhưng vấn đề cốt lõi nhất có lẽ là, không ai muốn trong Ok9 cab trò chơi casino phổ biến còn có những thân phận con người đêm đêm phải làm “trò chơi” cho những người khác, dù do bất cứ  hoàn cảnh nào đưa đẩy họ đến con đường phải đi làm cái “nghề nhạy cảm” kia. Đó mới là tính nhân văn của một Ok9 cab trò chơi casino phổ biến văn minh.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.