Nàng Mạnh Khương phương Đông!

Ở các nước tương đồng nhau về lịch sử sẽ có những cổ mẫu giống nhau nhưng không phải là một. Xin bàn đến trường hợp hình tượng nàng Mạnh Khương có ở nhiều quốc gia phương Đông, nhưng đạt đến độ ám ảnh thì ở Việt Nam và Trung Quốc.

  • “Vừng ơi, mở ra”... cái gì?

1.Truyền thuyết Trung Quốc "Mạnh Khương nữ khốc Trường thành" (Mạnh Khương khóc Trường thành) kể nàng Mạnh Khương sống vào đời Tần (221-207 trước Công nguyên) con nhà giàu có, danh giá. Vừa mới cưới chồng là Phạm Kỷ Lương được ba ngày thì chồng phải đi phu xây trường thành. Mỏi mòn chờ đợi, không thấy chồng về, nàng may áo rét đem cho chồng. Tìm được đến nơi mới biết chồng đã chết. Đau đớn tột cùng, nước mắt người góa phụ chảy thành sông làm sụp đổ cả một đoạn thành dài. Rồi nàng đập đầu vào đá…

Nàng Mạnh Khương phương Đông! -1
Tranh "Mạnh Khương nữ" (Trung Quốc).

Lại có dị bản kể, bị ốm chết vì lao lực, chồng nàng liền bị chôn vào trong trường thành, nước mắt của nàng làm lộ ra xương cốt người xấu số… Căn cứ vào nội dung truyền thuyết thì thời gian câu chuyện sớm hơn nhiều so với thời điểm nhà Tần thống nhất 6 nước, do vậy có thể không phải là "Vạn lý trường thành" mà Tần Thủy Hoàng cho OK9 đã banh. Nhưng đi vào văn chương, câu chuyện trở nên cảm động với màu sắc bi kịch nhân văn thấm thía. Để phù hợp với tính chất bi thương, nhiều bản kể gắn liền với danh từ Vạn lý trường thành và Tần Thủy Hoàng.

Xét trong sử sách, truy ngược về trước thì chuyện về nàng Mạnh Khương lần đầu có trong "Tả truyện" có tên "Kỷ Lương thê" (Vợ Kỷ Lương), kể chuyện võ tướng Kỷ Lương nước Tề bị chết trong chiến tranh. Vợ của ông giữ trung tiết chịu tang chồng. Trong "Liệt nữ truyện", tác giả Lưu Hướng thời Tây Hán cũng viết về vị hiền thê của tướng Kỷ Lương nước Tề. Theo đó, Tề Trang Công đích thân ra trận, tướng Kỷ Lương đi theo hộ vệ nhưng chẳng may bị chết. Tiếc thương một tướng tài, trung nghĩa, Tề Trang Công đưa thi hài Kỷ Lương về tổ chức tang lễ chu đáo. Quá thương chồng, sa vào cảnh không con cái, vợ Kỷ Lương đau đớn khóc nhiều đến mức nước mắt làm đổ sụp một góc thành.

Cuối đời Đường, nhà thơ Quán Hưu viết bài "Kỷ Lương thê", có câu: "Nhất hào thành băng tái sắc khổ/ Tái hào Kỷ Lương cốt xuất thổ" (Khóc lên một tiếng, nơi biên tái mịt mờ sắc khổ/ Khóc lên lần nữa, hài cốt Kỷ Lương lộ ra). Nội dung bài thơ cho thấy gần giống với truyền thuyết nàng Mạnh Khương. Đến đời Tống, tác giả Trịnh Tiều viết: "Kỷ Lương chi thê, vu kinh truyện sở ngôn giả, sổ thập ngôn nhĩ, bỉ tắc diễn thành vạn thiên ngôn" (Vợ của Kỷ Lương, trong kinh truyện chỉ nói có mấy chục lời, nhưng được diễn thành ngàn vạn lời). Ý nói câu chuyện vốn chỉ có "mấy chục lời" nhưng "thiên biến vạn hóa" thành "ngàn vạn lời". Đây là một đặc trưng của truyền ngôn dân gian, chỉ một "cổ mẫu" ban đầu, theo thời gian, được khúc xạ qua nhiều người, câu chuyện biến hóa thành muôn vàn chi tiết, ý nghĩa khác nhau.

Cũng đời Tống, Văn Thiên Tường (1236-1282), khi đến địa danh Sơn Hải quan (nơi dựng miếu thờ nàng Mạnh Khương), có thơ: "Tần hoàng an tại tai/ Vạn lý trường thành trúc oán/ Khương nữ vị vong giả/ Thiên thu phiến thạch minh trinh" (Tần Hoàng há yên chăng/ Muôn dặm trường thành xây oán hận/ Mạnh Khương không chết được/ Ngàn thu phiến đá khắc kiên trinh). Sau này trong "Đường sang nước bạn" (1959), Tố Hữu đồng cảm tiếp nhận ý thơ này: "Văn Thiên Tường ơi!/ Nếu anh sống lại/ Đến bên bờ Bột Hải/ Thăm Sơn Hải Quan/ Anh sẽ không còn khóc mãi/ Nàng Mạnh Khương xưa mùa đông/ Bơ vơ đi mang áo rét cho chồng/ Đắp Trường thành vạn lý!".

Câu chuyện mang một chủ đề tố cáo triều đình phong kiến coi rẻ mạng sống con người; chà đạp lên hạnh phúc lứa đôi; tình nghĩa vợ chồng sâu nặng; nỗi khổ đau của phận người thiếu phụ… Những chủ đề ấy liệu có ánh xạ vào truyền thuyết Việt Nam, gần gũi bối cảnh, không gian, tình huống, tên gọi…?

Nàng Mạnh Khương phương Đông! -0
Đền thờ nàng Bình Khương (Việt Nam)

2.Truyền thuyết "Nàng Bình Khương" (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa) kể công cuộc đắp Thành Nhà Hồ được làm rất gấp rút, khẩn trương. Viên quan Trần Cống Sinh (chồng nàng Bình Khương) được giao phụ trách việc OK9 đã banh đoạn tường thành phía Đông. Nhưng thành cứ xây gần xong lại bị sụt lở. Nghi ngờ cố ý chậm trễ, Hồ Quý Ly bèn ghép Cống Sinh tội làm phản, bèn cho vùi thân chàng vào bên trong tường thành cửa Đông.

Nghe tin chồng bị chôn sống, nàng Bình Khương vội vã tìm tới. Nhưng chồng đã chết, quá đau đớn, nàng đập đầu vào đá kêu oan. Cái chết đau đớn, tiết liệt đã đánh thức lương tri. Triều đình cho điều tra lại bằng cách đào sâu xuống dưới thì phát hiện ra mạch nước ngầm… Cống Sinh được giải oan. Nhưng nàng Bình Khương không thể sống lại. Dân bèn lập đền thờ tạm…

Đến năm 1903, tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh  đêm ấy nằm mộng gặp người phụ nữ khóc lóc rũ rượi bèn hỏi mới biết đó là nàng Bình Khương. Ông liền cho quyên tiền OK9 đã banh ngôi đền thờ khang trang tưởng nhớ tấm lòng liệt nữ, cho dựng bia nhắc đời sau nhớ về đôi vợ chồng đáng kính trọng mà chết oan uổng: "Tấm lòng trinh tiết in vào đá/ Lưu mãi muôn đời vạn tiếng thơm". "In vào đá" bằng cả nghĩa đen, nghĩa bóng. Những dòng chữ ấy khắc vào một tảng đá còn in dấu tay và đầu nàng Bình Khương.

Theo sử sách thời vua Gia Long (1816), "Góc Đông Nam thành có một phiến đá lớn, ở giữa lõm xuống như hình đầu người, hai bên có hai vết lõm nhỏ như hình đôi tai. Lại thấy hai bên có hai vết lõm như in hình đôi bàn tay người, còn thấy rõ hình ngón tay". Lại có truyền thuyết, ở đời vua Đồng Khánh (nhà Nguyễn), lo sợ dân gian truyền tin đồn về dấu tay và đầu nàng Bình Khương sẽ ảnh hưởng đến trị an của làng, viên hào lý nọ bèn thuê thợ đục cả phiến đá đem chôn. Nhưng sau đó, người thợ bỗng nhiên mắc bệnh mà chết. Viên hào lý cũng chết một cách bí ẩn. Sự việc truyền lên đến huyện lệnh, viên Tri phủ Đoàn Thước bèn sai thay vào tảng đá khác, có khắc dòng chữ: "Trần triều Cống Sinh - Bình Khương nương, phu nhân chi thạch" (Đá này khắc ghi chuyện nàng Bình Khương, vợ Cống Sinh, triều Trần).

Hai truyền thuyết ở hai vùng văn hóa, có chung mô típ, tình huống, sự kiện, nhân vật, nhưng khác về thời gian, chi tiết. Không loại trừ có sự ảnh hưởng qua tiếp biến, giao lưu giữa hai nước gần gũi. Nhưng cách lý giải sự giống nhau dễ chấp nhận đó là do tương đồng lịch sử: đều chung sự kiện xây trường thành (Vạn lý trường thành và Thành nhà Hồ); tương đồng tình huống bi kịch: người vợ tìm đến thì chồng đã chết oan khốc; tương đồng nỗi đau không gì bù đắp: chồng chết thì vợ chết theo…    

Cái lõi truyền thuyết là sự thật nhưng bao phủ sự thật ấy là lớp lớp ánh hào quang hư cấu, tưởng tượng, thêu dệt… Không ai có thể bóc hết những lớp vỏ bọc ấy nên chỉ còn cách lật mở một vài lớp nghĩa của biểu tượng mà thôi.

Một là, OK9 đã banh "trường thành" để bảo vệ một cơ quan đầu não của chế độ nên đó là Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP to lớn, khó khăn, gian nguy, tốn kém, thường biểu tượng cho Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP quốc gia, đại sự. "Vạn lý trường thành" bên Trung Quốc hay "Thành nhà Hồ" ở Việt Nam là rất tiêu biểu. Những cái chết tận cùng oan khốc của dân phu là biểu trưng cho sự hy sinh vô ích và vô nghĩa cho chế độ phong kiến. Đó là sự tố cáo, lên án, kết án của dân cùng chống lại cường quyền.

Phải chăng còn một ý này: "trường thành" còn là biểu tượng cho sự trở ngại, chông gai, những chướng ngại vật trong cuộc đời mà con người, nhất là những đôi vợ chồng trẻ phải vượt qua. Nếu không vượt qua sẽ là bi kịch (!?).

Hai là, nước mắt nàng Mạnh Khương chảy thành sông tức nỗi đau mất chồng (của người phụ nữ xưa) là nỗi đau lớn nhất, thảm khốc nhất. Nếu không có con (trai) mà chồng chết thì người vợ sống không bằng chết nên cũng chết theo. Ngoài ca ngợi tình nghĩa vợ chồng còn ngầm lên án Ok9 cab trò chơi casino phổ biến bất bình đẳng nam nữ.

Ba là, tên/hình dáng nhân vật được khắc vào đá như một sự vĩnh cửu hóa, bất tử hóa tình nghĩa con người. Vì đá thì còn mãi…!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.