Mưa của ngày xưa

Mẹ giơ tay ra hứng mưa, từng ngón gầy guộc dưới lớp da đồi mồi mỏng tang nhìn rõ từng đường gân xanh vất vả, tưởng chừng đang đâm chồi, nảy lộc mỗi giêng hai. Khó nhọc ơi hãy cứ ở lại sau lưng mẹ, âu lo hãy cứ ở lại sau lưng mẹ nhé, để mưa ngày xưa mang nỗi nhớ bay về, dâng lên và tràn qua kẽ tay.
  • Hình ảnh lũ lụt trong thơ Việt
  • Vai áo của những ngày xanh
  • "Bàn tay" một cách giải cổ mẫu

Thường thì trong câu chuyện của mẹ tôi cũng hay bắt đầu bằng ngày xưa. Và ngày xưa của mẹ tôi vẫn trở về bằng những trận mưa. Mẹ ra đứng bên cửa sổ để ngắm mưa. Mưa gõ nhịp trống trên mái rêu xanh mướt như lá sen non, sen già trong ao chùa tháng bảy. Mưa trút tiếng hát xuống dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa đang nhoài về phía biển.

Mưa ban từng hạt châu, hạt ngọc lên hàng cây sấu xòe tay như reo, như múa. Mái rêu đang nóng như chảo rang, sông Hồng đang nằm oằn mình khô khát, hàng cây sấu đang đứng trễ nải rũ rượi bỗng bừng lên non nõn, mơn mởn trong sự hồi sinh bất tận. Mặt đường như một cô gái dày dạn nuốt chửng ngay nụ hôn mưa đầu tiên vừa chạm lên da thịt. 

Nhưng mưa như một chàng trai mạnh mẽ hôn bạo liệt, tới tấp khiến cho mặt đường ướt nhoẹt ra, mềm nhũn đi trong vòng tay tình ái của mưa. Con đường bỗng chốc hóa ra dòng sông, và dòng sông biến thành con đường. Con đường chảy thi cùng dòng sông, và dòng sông chạy thi với con đường về nơi cùng trời, về nơi cuối đất. 

Con đường và dòng sông khác nhau về đam mê nhưng giống nhau về khát vọng muốn chinh phục những vùng trời khác, những miền đất mới. Dằng dặc triền sông mưa. Hun hút ngả đường mưa. 

Mỗi khi nhìn thấy mẹ ngắm mưa bên cửa sổ, hình ảnh ấy với tôi bình yên và thương mến đến lạ kì. Bao nhiêu âu lo, khó nhọc của cuộc sống áo cơm tất bật đều được gột rửa, và ý nghĩ trong đầu cũng được thanh tẩy sạch sẽ bụi trần. 

Mẹ giơ tay ra hứng mưa, từng ngón gầy guộc dưới lớp da đồi mồi mỏng tang nhìn rõ từng đường gân xanh vất vả, tưởng chừng đang đâm chồi, nảy lộc mỗi giêng hai. Khó nhọc ơi hãy cứ ở lại sau lưng mẹ, âu lo hãy cứ ở lại sau lưng mẹ nhé, để mưa ngày xưa mang nỗi nhớ bay về, dâng lên và tràn qua kẽ tay.

Tôi nhớ ngày thơ bé, bà tôi đưa võng đay ru em gái tôi ngủ bằng những lời ru da diết, thẳm sâu “À ơi… Cái cò đi đón cơn mưa. Tối tăm mù mịt ai đưa cò về?”. Lời ru uốn cong ngọn tre cuối thôn muôn nghìn dấu hỏi. Lời ru nhe nanh chó đá cổng làng tháng ba bụng đói. Lời ru gặp mẹ đi cấy đồng sâu, sợ lưng mẹ mỏi. Vẫn cầm cổ lôi về con trắm, con trê. 

Tôi bỗng thấy hai tay mình biến thành đôi cánh và toàn thân mọc đầy lông vũ trắng muốt. Tôi lặn lội bay ngược cơn mưa, bay ngược triền sông, bay ngược bờ đê để trở về với ngày thơ bé. Có lúc đôi cánh mỏi rã rời tưởng chừng như sắp gãy rời, muốn ngã lộn cổ, nhưng tôi không thể thành món xáo măng nước đục đau lòng như trong câu ca dao xưa, tôi lại gắng gượng, miệt mài bay tiếp. Tôi không thể nào gục ngã được.

Làng Hoành Nha của tôi kia rồi – đằng sau đám mây đen, ở cuối cơn mưa rào. Mưa to quá, nặng hạt quá như ông Trời đang ném từng vốc sỏi xuống trần gian, như thần Mưa bắn liên tiếp một trăm mũi tên từ cánh cung trúng hàng trăm đích, như mẹ tôi vung tro, vãi trấu sau vụ chiêm mùa. Bay qua cánh đồng Diệc Mạ, tôi không gặp mẹ tôi đi cấy, đi cày chắc trời mưa to mẹ tôi đã chạy vào trú trong quán gạch giữa đồng.

Bay qua cổng làng, tôi vẫn gặp hai con chó đá sừng sững đứng canh, chẳng biết người ta đã cho ăn chưa mà vẫn thấy hai con chó đá nhe nanh dọa nạt trông thật dữ tợn. Tôi đậu xuống một ngọn tre – một dấu hỏi giữa muôn nghìn dấu hỏi. Khói bốc lên từ mái rạ, gặp mưa khói mờ hơi sương. Nhà nghèo, khói cũng nghèo, khói nghèo nhưng mà khói thơm quá, điếc cả mũi, ù cả tai. 

Bà tôi đang ngồi trong bếp kho cá đấy, chỉ có kho cá mới thơm như thế. Chẳng biết cá trê kho nghệ hay cá trắm kho riềng. Lửa từ gộc củi nhãn đang nhảy nhót quanh chiếc niêu đất màu da lươn. Tro tàn theo gió bốc lên nghi ngút bám trắng gác bếp bồ hóng, nhuộm trắng tóc bà sương khói, và phủ trắng tuổi thơ tôi lam lũ, nhọc nhằn.

Mưa khiến cho sân gạch hồng tươi như làn môi cô thiếu nữ thô kệch làng Hoành Nha nghèo khó lần đầu thử đánh son theo lối tỉnh của mợ kí, mợ phán đài các trên thành Nam phồn hoa đô hội, vừa muốn khoe, lại vừa sợ mẹ đánh đòn. Mưa làm cho ao bèo dâng lên tới nửa sân, và từng đàn cá rô rủ nhau rạch vây cứng như thép nung, sắc như dao phay lên mặt sân loang loáng ánh bạc. Tiếng ếch nhái ra rả học thuộc lòng bài tập đọc “Ếch kêu uôm uôm. Ao chuôm đầy nước…”. 

Đám trẻ con cởi truồng chạy ào ra sân lội bì bõm. Mưa gieo nốt nhạc trên mái tóc khét nắng, trên làn da đồng hun hòa theo giọng đồng dao át tiếng mưa rào “Lạy trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm…”. Bà tôi bảo, tắm mưa cho hết rôm sảy, phòng ốm đau, chẳng bù cho trẻ con bây giờ, mới hơi dính tí nước mưa, dù đã lau khô, tắm rửa mà vẫn lăn ra cảm sốt, phải thuốc thang, tiêm truyền chán chê mới khỏi.

Đám trẻ con reo lên như vỡ đê, như đánh trận giả khi bố chúng vừa tóm gọn đàn cá rô mải chơi bằng một mẻ lưới điêu luyện, gọn gàng. Mưa lẩn vào trong vườn trước, ngước nhìn lên thấy chị bưởi đã cởi yếm đào để ngực trần thật lẳng lơ, anh gió phong tình khẽ động vào làm đung đưa những căng tròn, mọng mẩy. Xấu hổ quá, mưa cúi đầu xuống thấy một em gà nhép lạc mẹ đang run sợ nép mình dưới luống khoai ngứa xòe ra như một cái ô tí hon. 

Mưa trốn ra ngoài đường thôn, gặp mấy thím, mấy dì đang về chợ, đầu đội thúng, hai tay chẳng cần giữ thúng cứ tha hồ vung vẩy, đội thúng mà như đội cả trời mưa, miệng bỏm bẻm nhai trầu, quết trầu đỏ lòm, chân tõe ra như chân gà mái bám vào đường thôn nhầy nhụa bùn đất. Bùn đất cũng nâu sồng như áo sồi, áo đũi. Ven đường cỏ may cặm cụi khâu áo bằng cơn mưa dài như sợi chỉ. Và ngoài kia là mênh mông đồng ruộng, lúa đang cúi đầu tạ ơn những giọt mồ hôi của người nông dân hai sương, một nắng gieo trồng.

Thế mà mưa vẫn không lẩn trốn được khỏi bàn tay vi diệu của ông tôi. Ông tôi giỏi lắm nhé, ông tôi có tài bắt mưa rào nhốt vào trong vại sành, bằng cái vòi mo nang quấn quanh thân cau. Mưa rào ấy ông tôi dùng để đun nước pha trà bằng ấm tử sa. 

Mỗi sớm mai bên thềm nhà, khi đàn sẻ tha nắng lên mái ngói, nghe thoang thoảng đâu đây trong vị trà hương nhài trắng ngần, hương sen hồng ửng, bà tôi ngâm mấy câu thơ theo điệu bồng mạc “Thân em như hạt mưa rào. Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa…”. Giọng bà văn vắt như hạt mưa rào giếng khơi, ngan ngát như hạt mưa rào vườn hoa.

Bà tôi bảo, mưa to mấy rồi sẽ tạnh, đau khổ mấy rồi cũng sẽ bình yên. Chẳng phải chúng ta đều tìm kiếm sự bình yên trong cõi người chật hẹp này hay sao? Hình như mưa tạnh rồi, bà ạ. Cháu thấy lòng đã bình yên trở lại khi lặn lội thân cò trong mưa rào để bay về với ngày xưa yêu dấu. Giờ cháu lại bay đi, nơi có mẹ đang đứng bên cửa sổ, cái cửa sổ sơn xanh ấy như lòng mẹ không bao giờ khép, dù bão, dù mưa, để đợi cháu về, phải không bà…

Hoàng Anh Tuấn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.