Lửa thắp sáng núi Hồng

Đấy không phải ngọn lửa hào hùng sục sôi khí thế cách mạng của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh những năm tiền khởi nghĩa, một trong những “phát súng” đầu tiên mở màn cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công. Mà đây là ngọn lửa nhân sinh, hào sảng và nhân văn của những bễ rèn từ hàng trăm năm nay của dân làng Trung Lương, dưới chân núi Hồng Lĩnh.

  • Tính tẩu đàn trời
  • Huyền ảo sơn son

Một thời chưa xa, Trung Lương còn ở cấp làng xã. Nhưng nay thì Trung Lương đã “lên đời” từ làng trở thành phường. Cái phường rèn nổi tiếng cả thế kỷ qua khắp trong Nam ngoài Bắc ấy thuộc Hồng Lĩnh, chốn quê nhà Hà Tĩnh mến yêu!

Bất động trước án tiền ngôi đền Rú Tiên thờ đức Tổ nghề rèn làng Trung Lương hướng cái nhìn vào những vòng khói hương sương khói đang thi nhau quẩn từng vòng trắng đục bảng lảng mờ nhân ảnh, ông Bùi Văn Lâm bỗng xúc động mở lời: “Nghề rèn của phường Trung Lương tôi được hình thành, phát triển từ cái ngày thuộc đời xửa đời xưa. Ấy thế nhưng, đức Tổ nghề khai sinh ra cái bễ rèn đầu tiên của làng vào ngày tháng năm nảo năm nào thì cho đến nay chả tường tận một cách rành mạch cụ thể cả đâu!”.

Lửa thắp sáng núi Hồng -0
Đền Rú Tiên nơi thờ đức tổ nghề rèn Trung Lương.

Ông Lâm bồi hồi nhớ lại: Rằng thì, lúc còn là cái anh chàng “bé như mắt muỗi” cởi truồng tắm sông, mình đã được nghe cha kể về “cái tích” ra đời nghề rèn của làng. Mà thật ra, cha ông cũng lại chỉ nghe các bậc sinh thành kể lại bên cánh võng tuổi thơ và cạnh bễ rèn rực lửa quanh năm rộn ràng những âm thanh cục cà…cục cạc của đe và búa cùng ánh lửa than reo vui chan hòa sức sống mà thôi.

Chuyện rằng: Nghề rèn của làng Trung Lương xuất hiện từ sớm lắm, thấy bảo ngay từ triều đại nhà Lý, lúc mà đức thủy Tổ cùng các bậc tiên hiền tiên liệt mới khai sơn phá thạch lập nên làng cơ đấy. Ấy thế nhưng, ông Lâm lại được cha mình kể lại thế này: ông Tổ nghề rèn Trung Lương có cái tên thật giản dị và thô mộc: Đùng!

Ông Đùng sống trên ngọn núi Hồng Lĩnh uy nghiêm hùng vĩ. Năm ấy, đâu như vào thế kỷ thứ 13 (?!) thấy dân trong làng không hề có bất cứ thứ dụng cụ nào để sản xuất cho nên ngài mới thương tình tự tay bới đất lấy sắt. Rồi thì ông Đùng lấy cây rừng đốt thành than tạo bễ rèn các dụng cụ lao động phát cho mọi nhà.

Muốn dân làng có nghề có nghiệp mà tạo kế sinh nhai lâu bền về sau, ông Đùng đã hoan hỉ truyền nghề cho dân trong vùng. Những người học được nghề đầu tiên đã lập nên làng rèn Trung Lương. Về sau, dân làng nhớ công đức của ông Đùng đã đúc tượng lập đền thờ tại Rú Tiên.

Đền ấy được gọi là đền thờ ông Thánh Thợ. Theo di lệ kế thừa truyền thống, vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm, nhân dân trong làng lại thành kính tổ chức linh đình lễ tế đức Tổ thánh thợ rèn để tri ân công cao đức dày của ngài.

Ông Lâm bảo: Mình còn được nghe những thế hệ đi trước truyền lại một câu chuyện khác về sự ra đời của làng rèn Trung Lương. Đầu đuôi thế này, ngày xửa ngày xưa, có hai anh em người họ Trương quê hương bản quán ở đâu chả ai tỏ tường, bỗng một ngày nọ, họ đến Trung Lương xin khởi nghiệp bằng nghề rèn.

Không lâu sau đó, người anh ở lại truyền nghề cho dân làng Trung Lương. Trong khi đó người em mang theo đồ nghề mà xuôi Nam vào cố đô Huế lập nên làng rèn Hiền Lương. Khi đã có nghề để mưu sinh dài lâu, để đền đáp công ơn của người đã cho mình “cái cần câu” mà câu con cá, dân làng Trung Lương đã tôn anh em họ Trương là tổ nghề rèn.

Rồi thì người làng Trung Lương cùng nhau công đức cúng tiến tiền bạc công sức xây ngôi đền Rú Tiên, vào năm 1880. Tại đền Rú Tiên hiện còn đôi câu đối nhắc đến OK9 trang cược thể thao xanh chín nhất châu Áh em người họ Trương. Vì không ai biết tên tuổi của anh em họ Trương kia nên tên làng rèn Trung Lương và tên làng rèn Hiền Lương của đất Huế được ghép đôi. Cái tên “Trung -  Hiền” thành tên hai anh em người họ Trương. Câu đối ấy như sau: “Trung Hiền tịnh tiến tương tiên hậu/ Lương thiện thành phong tự cổ kim”. Tạm dịch là: “Trước sau Trung Hiền đều sánh bước/ Xưa nay lương thiện đã thành lề”.

Lửa thắp sáng núi Hồng -0
Ông Lê Đức Cẩn, một thợ cả tay nghề cao của làng rèn Trung Lương.

Dẫu là người rất khiêm cung, kín đáo, nhưng trong một giây khắc nọ, ông Bùi Văn Lâm vẫn không giấu được niềm tự hào khi kể: Vào cái thời “cổ tích” chưa xa ấy, dân làng Trung Lương không chỉ sản xuất mỗi món nông cụ để phục vụ OK9giaitri đăng nhập lao động thường nhật. Mà khi OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao có binh biến người Trung Lương còn sẵn sàng mang tài năng của mình ra phò nước, cứu dân.

Thời Cần Vương, thầy trò cố Đường đã tình nguyện đem lò bễ của mình lên đại ngàn rèn đao, kiếm cho nghĩa quân Phan Đình Phùng. Mà nghe đâu, cũng nhờ có những bễ rèn của người Trung Lương mà cố Đường đã cùng với ông Cao Thắng chế tạo thành công những khẩu súng đầu tiên.

Nào đâu chỉ có thế, trong giai đoạn “Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”, những người thợ rèn Trung Lương đã tự nguyện rèn hàng vạn mã tấu, dao, kiếm, và hàng ngàn khẩu súng kíp... phục vụ công cuộc kháng chiến của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Những vũ khí thô sơ mà thợ rèn Trung Lương làm ra bằng cả tấm lòng sâu nặng dành cho cuộc ái quốc vĩ đại của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đã góp phần tạo nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

*

Cũng bởi kế mưu sinh mà “đánh bạn” với cây kìm cái búa, cái đe từ cái thuở “chưa nứt mắt” nay đã ngót 40 năm trời, ông Lê Đức Cần chia sẻ: Ở đâu thì chả biết, nhưng với người Trung Lương, nghề rèn đều mang tính chất cha truyền con nối. Việc ấy đã thành truyền thống từ mấy trăm năm nay rồi chứ chả thể nói là mới mẻ gì.

Cũng vì đó và phần cũng do cái sự phân công lao động không thành văn nên ở Trung Lương đã mặc định điều này: Nhà nọ làm dao thì nhà kia “chuyên món” liềm, cuốc. Thành ra mỗi hộ gia đình đều có bí quyết truyền nghề riêng để đảm bảo sinh kế bền vững của mình.

Tâm sự về cái nghiệp đe búa, ông Cần chân thành trải lòng: Để có thể “ăn nên làm ra” với nghề rèn là một việc rất khó. Nhưng không phải không thể được “đồng ra đồng vào” nhờ nghề. Bằng chứng cụ thể là, trải qua hàng trăm năm có lẻ, dẫu có lúc thăng khi trầm; khi thịnh khi suy, nhưng chưa bao giờ các bễ rèn của Trung Lương nguội tắt cả. Nghề vẫn cứ tồn tại, phát triển một cách căn cơ.

Người Trung Lương làm được điều đó với một bí quyết thật giản dị: lấy chất lượng sản phẩm làm chữ TÍN, thế thôi! Dĩ nhiên là bao thế hệ những người thợ rèn làng Trung Lương đã phải đổ mồ hôi nước mắt và thậm chí là cả máu cho việc rèn giũa tay nghề mới có được “thương hiệu” của riêng mình.

*

Khó khăn lắm mới có được những giây phút ngơi chân ngơi tay khỏi cây đe cây búa, bên ấm tích trà nóng đặc trưng xứ Nghệ, người thợ cả vào hàng “cao thủ” của đất Trung Lương, Bùi Văn Lâm thủ thỉ tâm tình: Để giữ được lửa nghề ngày một bền chặt keo sơn, quanh năm suốt tháng, cứ y như cái việc “sao y bản chính”, sáng nào vợ chồng ông cũng thức dậy từ lúc bốn giờ sáng cơ đấy.

Ấy thế mà, theo nghiệp tổ quá nửa đời người chuyên sản xuất các loại dao mỏng để mưu sinh, nhưng chưa khi nào ông Lâm có cảm giác chán nghề.

“Làm nghề rèn vất vả chết đi được anh ạ! - Ông Lâm bộc bạch tự đáy lòng - Nếu không có sức khỏe dẻo dai và con mắt tinh tường cùng tay nghề thật chắc thì chả thể “phải lòng” nghề được đâu. Sức nóng của lửa than. Bụi bặm và khí độc của than đá dễ khiến người ta nản lòng lắm!”.

Nhấp ngụm trà nóng ngọt chát nơi đầu lưỡi, ông Bùi Văn Lâm tiếp tục tục lời gan ruột. “Dù vậy, người khác thì chả biết thế nào. Nhưng với riêng tôi, chỉ khi nào sức cùng lực kiệt may ra mới có thể giã từ cây búa cái đe và ngọn lửa rèn được. Nghề rèn của Trung Lương là một phần hồn của di sản văn hóa làng nghề Hà Tĩnh quê tôi cả đấy. Ấy là tôi cứ nghĩ như vậy anh ạ!”.

Ôi, thì ra ĐẤT và NGƯỜI làng rèn Trung Lương là vậy. Đấy là ĐẤT cách mạng kiên trung sắt son. Con NGƯỜI nơi ấy tay búa tay kìm mà mềm mại bút hoa. Và cho dù vật có đổi, sao có dời thì trước sau, họ vẫn cứ một lòng nhất tâm chung thủy với di sản văn hóa của cha ông để lại. Đó chính là tâm hồn, nhân cách văn hóa của những người thợ rèn làng Trung Lương, ấy thế!

Công Hội

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.